Translate

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

MỒNG BA TẾT – THÁNH HOÁ CÔNG ĂN VIỆC LÀM

Hôm nay mồng ba tết, ngày truyền thống Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cầu xin Thiên Chúa chúc lành và thánh hoá công ăn việc làm trong năm mới. Phụng vụ Lời Chúa qua bài Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta ý thức hơn về việc làm sinh lợi cho Thiên Chúa qua ân huệ và khả năng mà Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta. Bài Tin Mừng hôm nay kể cho chúng ta về mối tương quan chủ và thợ: Có một ông chủ sắp đi xa liền gọi các đầy tớ đến mà trao phó tài sản của ông.  Ông chủ này quá tốt, đã tin tưởng trao hết tài sản mình cho công nhân, không đắn đo tính toán. Ông cho họ có cơ hội để lập nghiệp. Ông rất nhân đạo và biết nhìn người, ông trao cho người này năm nén, người kia ba nén, người khác một nén tùy khả năng mỗi người. Điều đó có nghĩa là ai có khả năng như thế nào thì ông chủ tạo điều kiện cho như thế, không bắt ép họ phải chịu trách nhiệm vượt quá khả năng của mình. Điều ông chờ đợi và đòi ở đầy tớ của ông, không phải là chuyện lời hay lỗ, mà là sự chăm chỉ làm việc và làm việc trong sự hăng say phấn khởi biết ơn ông. Ông không chấp nhận sự lười biếng, lười suy nghĩ tính toán, không cố gắng. Câu chuyện cho thấy khi ông chủ trở về, đã gọi đầy tớ đến để tính sổ. Người năm nén sinh lời được năm nén khác, người ba nén cũng vậy, những người này đều được ông chủ khen là những đầy tớ tốt lành và trung tín.Sự tín trung với chủ và giữ chữ tín trong công việc chính là điều khiến những người này được khen thưởng. Trái lại, sự bất tín biếng nhác, lười suy nghĩ tính toán, ù lỳ thụ động là điều không thể chấp nhận. Người lãnh một nén đã đem chôn giấu nén bạc ông chủ, vì anh đã có cái nhìn hoàn toàn sai lạc về chủ của mình. Anh phân bì cho rằng chủ mình keo kiệt tham lam, hà khắc, gặt chỗ không gieo thu nơi không phát. Anh còn mang thái độ sợ hãi thay vì yêu mến biết ơn ông chủ, nên đã chôn giấu nén bạc của chủ. Từ cái nhìn không đúng về chủ, nên anh cũng không quan tâm gì đến việc kinh doanh sinh lời vốn liếng chủ trao. Đối với ông chủ, ngay việc giữ huề vốn nguyên vẹn một nén bạc đã không thể chấp nhận, ít ra anh ta cũng phải làm lời theo lãi suất ngân hàng.

Qua thái độ của ông chủ và những người đầy tớ trong câu chuyện của Tin Mừng, Chúa Giêsu chỉ cho thấy: Thiên Chúa chính là ông chủ tốt lành, Ngài ban cho mỗi người những khả năng và tài năng khác nhau. Ngài còn tạo cho chúng ta có nhiều cơ hội để phát triển các khả năng và tài năng đó. Ngài muốn chúng ta làm việc hết mình với lờng biết ơn và yêu mến. Ngài chờ đợi chúng ta biết tận dụng thời giờ để làm lời những gì đã nhận được từ nơi Chúa. Nén bạc Chúa trao cho chúng ta hôm nay có thể là thời giờ, sức khỏe, tuổi trẻ tài năng và của cải vật chất, chúng ta phải sinh lời gấp đôi gấp ba những cái chúng ta đã nhận. Có những người Chúa ban cho nhiều cơ hội nhưng vì lười biếng hoặc chần chừ, thụ động nên đã để vuột mất cơ hội ấy. Những người khác đã nắm bắt được cơ hội và đã sinh lời cho bản thân và cho gia đình của mình.

TÓM LẠI: Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo, Người muốn con người cộng tác vào công trình tạo dựng của Người qua đời sống lao công, đồng thời Người ban mọi ân huệ: thời gian, sức khoẻ và tài năng cho con người, để con người hoàn thành những gì Người đã giao phó: 

- Một ông chủ đi xa trao lại cho các đầy tớ gìn giữ những nén bạc của ông. Nghĩa là khi dựng nên chúng ta, Thiên Chúa trao cho chúng ta một ân huệ tuỳ khả năng từng người, rồi Ngài ban cho chúng ta sức khoẻ, thời giờ, tài năng, để chúng ta làm sinh lợi cho Ngài.
- Người nhận năm nén hay hai nén hoặc một nén là tuỳ khả năng mà ông chủ tín nhiệm giao cho. Điều ông chủ muốn là sinh lời chứ không phải chôn giấu tiền bạc của ông chủ để chờ khi ông về trả lại. Cũng vậy, Thiên Chúa ban cho ta ơn đức tin qua Hội Thánh, chúng ta cần làm cho đức tin lớn mạnh qua việc thực thi đức ái Kitô Giáo, chứ không phải cứ lấy lý do “đạo tại tâm” rồi không làm gì cả.
- Người nhận hai nén và năm nén đã sinh lợi gấp đôi, nghĩa là những ai biết dùng ơn Chúa để hoàn thiện bản thân và mưu ích cho tha nhân, cho cộng đoàn, giáo xứ và Giáo Hội.
- Người nhận một nén đã chôn giấu đi, nghĩa là dù mang trên mình ấn tích rửa tội nhưng đã không sống đạo, đã để cho hạt giống đức tin bị chôn vùi và không sinh hoa trái gì cho đời sống thiêng liêng.
- Cái khác nhau ở chỗ là: người làm sinh lợi là người tin tưởng và yêu mến ông chủ nên đã tự nguyện làm việc nên đáng được ông chủ thưởng công; còn người sợ ông chủ và nghĩ xấu về ông chủ là người hà khắc nên đã sợ sệt đem chôn giấu nén bạc. Chúng ta cũng vậy, khi chúng ta tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa mà sống đạo, thì tự sự yêu mến sẽ sinh hoa kết quả; còn khi chúng ta làm vì sợ Chúa phạt thì không đem lại công phúc gì.
- Cuối cùng kẻ có được cho thêm, còn kẻ không có thì ngay cả cái đang có cũng sẽ bị lấy đi, nghĩa là Chúa ban cho chúng ta sức khoẻ, tài năng, cơ hội…, nếu chúng ta không chuyên cần cố gắng trau dồi, thì tự nó sẽ thui chột đi. 

*******
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con những ân huệ cần thiết để cộng tác với Ngài trong công trình tạo dựng. Xin Chúa ban cho chúng con được mưa thuận gió hoà và chúc lành cho mọi công việc của chúng con, để chúng con vừa có lương thực hằng ngày nuôi dưỡng thể xác, vừa để đóng góp vào sự phát triển xã hội nhân loại như lòng Chúa ước mong, lại vừa làm cho Chúa được vinh danh khi chúng con biết sử dụng sao cho ích lợi qua những ân huệ Chúa ban. Amen.

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

MỒNG HAI TẾT - CẦU CHO TỔ TIÊN


Lễ Hội Mùa Xuân bao giờ cũng thế - Sau một giấc ngủ đông lạnh lẽo, cảnh vật như bừng thức dậy để cùng tham gia vào bản hòa tấu rộn ràng của thiên nhiên đang rung lên trong nhịp sống mới. Bầu trời như cao hơn, trong hơn với ánh nắng ấm dịu dàng hòa quyện trong hương muôn hoa xuân khoe sắc. Tiếng chim hót ríu rít dưới những tán lá xanh um  rung rinh trong làn gió nhẹ khiến lòng người tự dưng bay bổng lên cao, để cùng vũ trụ ca lên khúc hát ngợi khen “Đấng tác sinh muôn loài”… Nhưng điều đặc biệt là hòa trộn trong cái rộn ràng ấy, ai ai cũng có thể cảm nhận, hít thở được cái khí chất thiêng liêng cao quí của tinh hoa đất trời, như muốn chúc phúc, và trao ban niềm vui, hạnh phúc cho con người. Bởi thế theo truyền thống của đạo công giáo, những ngày này là những ngày lễ tạ ơn Thiên Chúa và cầu xin những điều tốt đẹp nhất cho con người. Vì thế Giáo hội đã dành riêng ngày mồng hai tết để thi hành nghĩa vụ này, đặc biệt qua Thánh lễ cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ còn sống cũng như đã qua đời.

Hôm nay mồng hai tết, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Tin Mừng kể về sự tranh luận của Chúa Giêsu với các biệt phái Pharisiêu, xoay quanh việc giữ luật thảo kính cha mẹ và tập tục tiền nhân. Trọng tâm chính của lần tranh luận này giữa Chúa Giêsu và Biệt Phái là sự đối kháng giữa hai quan niệm, hai hình thức giữ luật. Các luật sĩ thắc mắc: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân? không chịu rửa tay khi dùng bữa? (Mt 15,1), Chúa Giêsu trả lời họ cũng bằng một câu hỏi: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa?” (Mt 15,2). Việc rửa tay trước khi ăn là một thói quen tốt giúp an toàn vệ sinh, nó như là một nét văn hoá được các giáo viên mầm non tập cho trẻ từ thuở bé. Và ở nhiều nơi trên thế giới, việc rửa tay trước khi ăn đã trở thành một tập tục, thậm chí như là một điều buộc phải làm để giữ gìn vệ sinh. Tuy nhiên, đối với các Pharisiêu thì nó được giải thích như là một điều luật và là một nghi thức tôn giáo để đánh giá con người trong sạch hay dơ bẩn. Thật vậy, vì quá câu nệ luật nên biệt phái Pharisiêu lẫn lộn cái chính yếu với cái phụ tùy, quá chú trọng đến cái phụ tuỳ bên ngoài mà đánh mất cái chính yếu bên trong là đức công bằng. Họ quan niệm giữ luật Chúa là tuân thủ những luật lệ, những nguyên tắc và những lễ nghi bề ngoài, nghiêm ngặt phần hình thức như "rửa tay trước khi ăn", "dâng lễ phẩm cho Chúa thay thế sự hiếu kính cha mẹ". Họ dùng nghi lễ bề ngoài, để thoái thác một bổn phận căn bản là hiếu kính cha mẹ, lấy quy ước của các tập tục phàm nhân do họ đặt ra để xóa bỏ đi điều răn của Thiên Chúa. Đối với Chúa Giêsu, quan niệm về những đòi hỏi của Thiên Chúa được thể hiện lớn nhất bằng luật yêu thương. Ngài xem giữ luật là một cảm nghiệm sống ở trong lòng, một biểu hiện liên đới, nhân từ, vượt trên hình thức, là tấm lòng trong sạch và đời sống yêu thương. Chúa Giêsu đã lấy một ví dụ về việc thực hành tập tục phàm nhân bịa ra để cho họ thấy, chẳng những đây không phải là luật Chúa mà còn có thể đi ngược lại Luật Chúa. Luật Thiên Chúa trong điều răn thứ tư là phải "hiếu thảo với cha mẹ của mình”. Còn người Pharisêu lại giới hạn bổn phận con cái dựa trên hoàn toàn vật chất, một nghĩa vụ vật chất được họ gán cho nghĩa vụ đạo đức.

Ngày mồng hai tết, Giáo Hội cũng nhắc chúng ta nhớ đến bổn phận thảo hiếu với ông bà tổ tiên. Việc nhớ đến ông bà tổ tiên cũng phải đặt trên một tấm lòng thành. Lời Chúa hôm nay soi rọi cho Chữ Hiếu của người Việt Nam, việc hiếu thảo phải được thể hiện một cách đặc biệt qua các dịp lễ tết, bằng việc trân trọng gìn giữ nét đẹp truyền thống của gia đình. Kế đến, là việc thảo kính vâng lời và làm vui lòng các bậc sinh thành và tiền nhân. Thảo hiếu với mẹ cha không chỉ dừng ở của cải vật chất nhưng phải hiếu thảo bằng cả tấm lòng yêu thương và tôn kính. Ngày nay, thật đáng lo ngại là cho sự khủng hoảng đạo lý nơi nhiều gia đình. Có những người con chỉ dừng trên nghĩa vụ, bổn phận lo lắng cho cha mẹ của cải vật chất, mà quên đi cha mẹ còn phải được kính trọng và yêu mến. Vật chất chỉ là giá trị bề ngoài nhưng chính giá trị tinh thần, giá trị đạo đức mới quan trọng cho đời sống cha mẹ. Giá trị đạo đức bị đảo lộn bởi có những đứa con coi vật chất là trên hết, đặt tiền tài trên nghĩa vụ làm con, sẵn sàng gửi cha mẹ vào các nhà dưỡng lão mà quên rằng bổn phận của con cái là nuôi dưỡng, thăm hỏi khi cha mẹ còn sống, và cầu nguyện xin lễ cho các ngài khi đã qua đời. Như vậy, Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta, không thể có một sự thỏa hiệp nào giữa hai quan niệm luật hình thức và luật yêu thương; không thể san bằng nghi thức bên ngoài với lệnh truyền của Chúa; không dùng tập tục con người để trốn tránh giới răn Thiên Chúa dạy phải sống trọn đạo hiếu.

TÓM LẠI: Lời Chúa ngày tết hôm nay nhắc cho những người đang lơ là với cha mẹ và gia đình, cần biết điều chỉnh lại lòng mình. Gạt bỏ những gì là ấm ức tức tối, bất hòa bất đồng, những gì là bằng mặt mà không bằng lòng, để vun đắp lại tình nghĩa gia đình và tình cảm mẹ cha anh em. Vì, các thứ khác trên đời này có thể mua bằng tiền, nhưng cha mẹ, anh em và hạnh phúc gia đình không thể mua bằng tiền, mà phải đổi bằng hy sinh có khi là của cải, kể cả công danh sự nghiệp mới có được thứ hạnh phúc ấy - hạnh phúc gia đình

********
Lạy Chúa Giêsu, khi còn sống ở trần gian nơi gia đình Thánh Gia Nazareth, Chúa đã nêu gương về lòng đạo đức và vâng phục cha thánh Giuse và mẹ Maria. Xin cho chúng con cũng luôn biết tôn kính vâng lời và phụng dưỡng các bậc cha mẹ, xứng với công ơn sinh thành và dưỡng dục của các ngài đã dành cho chúng con. Amen

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

MỒNG MỘT TẾT - CẦU BÌNH AN CHO NĂM MỚI- MẪU B

Ngày đầu năm mới, Giáo Hội cho đọc Bài Tin Mừng kể về phần cuối của bài giảng “kiện toàn lề luật” của Chúa Giê-su, xoay quanh chủ đề: “Hãy yêu thương kẻ thù và hãy cầu nguyện cho họ”. Đó là chủ ý mà Giáo Hội muốn mời gọi con cái mình hãy quên đi tất cả những gì thù hận trong năm cũ, để bắt đầu một tình yêu mới dành cho mọi người trong năm mới này.

Luật xưa dạy: “Hãy yêu thương đồng loại và ghét kẻ thù”.
Đây là điểm tương khắc cuối cùng giữa luật cũ và luật Tin Mừng. Cựu Ước nói về lòng nhân ái, nhưng là sự liên đới đồng đạo (trong Do-thái với nhau) mà thôi.
Về vấn đề “ghét kẻ thù”, thật ra trong Cựu Ước không nói rõ vấn đề này, nhưng có những chỗ có tư tưởng tương đương (x. Đnl 7,2). Đúng hơn, luật Cựu Ước nói về kẻ thù dân tộc hơn là kẻ thù cá nhân. Tư tưởng này khuyên người ta dè dặt với kẻ thù xâm lược, không nên giúp đỡ chúng và thậm chí thà giết sạch còn hơn thông đồng với chúng trong lầm lỗi. Tắt một lời, dù cách nào đó luật Cựu Ước về đức ái đã ở một mức cao hơn các tôn giáo và các dân tộc sơ khai, nhưng bao lâu còn có tư tưởng trả thù thì bấy lâu hận thù còn truyền kiếp. Vì thế, cần đến luật Tin Mừng như Chúa Giê-su dạy hôm nay.

Thầy Giê-su dạy: “Hãy yêu thương kẻ thù và hãy cầu nguyện cho họ”. 

Đây quả là một lời dạy khó thực hiện nhất, nhưng là những môn đệ Chúa lại phải cố gắng thực hiện vì những lý do sau:

- Nếu chúng ta chỉ yêu những người yêu mình thì cũng có hơn gì dân ngoại và những người tội lỗi, họ cũng làm được và làm tốt hơn nữa là khác. Chúa Giêsu trên thập giá đã KÊU XIN CHÚA CHA tha thứ cho người đóng đinh mình, thánh Têphanô khi bị ném đá cũng CẦU XIN CHÚA tha thứ cho những kẻ bách hại… Đến lượt chúng ta là những Kitô hữu, chúng ta giống Chúa và khác với người ngoại chính là việc yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ.
- Cá tính của con người thật khó để yêu kẻ thù, ngay việc tha thứ và không trả thù đã là cao thượng lắm rồi, đàng này Chúa còn đòi hỏi chúng ta bước thêm một bước cao hơn nữa lên đỉnh hoàn thiện là YÊU KẺ THÙ và CẦU NGUYỆN CHO HỌ. Thật ra, dù khó, nhưng lại là một phương thế tuyệt hảo nhất có thể hoá giải được những mâu thuẫn giữa người với người. Vì khi, cứ tìm cách trả thù nhau thì thù hận càng ngày càng chồng chất từ đời cha sang con đời cháu và cả những dòng tộc trả thù đến trường kỳ. Nếu tôi trả thù được anh thì con anh tìm cách trả thù tôi và cứ như thế mãi mãi. Còn khi lấy ân để trả thù thì không những thù được hoá giải mà còn dễ nên bạn hữu của nhau và làm gương cho hậu thế.
- Bởi khi tha thứ là lúc được thứ tha. Mang trong mình sự hận thù, thì chính ta khổ trước, ăn không ngon ngủ không yên vì tức giận ấm ức, trằn trọc nghĩ kế trả đũa… Nhưng khi ta tha thứ thì không phải lo nghĩ gì và tâm hồn thanh thản, nhất là khi ta tha thứ thì ta không còn kẻ thù mà lại được bạn hữu. Tha thứ lại là một cách trả thù ngọt ngào nhất mà đối phương không ngờ, và làm cho chính đối phương dằn vặt vì nhận ra chính họ sai khi xúc phạm đến một người tốt, cuối cùng làm cho đối phương cảm kích và thay đổi thái độ.
-Lại nữa, khi sự tha thứ trong tương quan giữa người với người được thực hiện, lại chính là tiêu chuẩn Chúa xét công trạng cho chúng ta đáng được ân thưởng Nước Trời. Vì: “Anh em đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét, đừng kết án để khỏi bị Thiên Chúa tuyên án…” Lỗi lầm giữa chúng ta với nhau chẳng là gì so với lỗi phạm giữa chúng ta với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã ngàn lần tha thứ cho chúng ta thì đến lượt chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau. Chúa cho mưa xuống trên người lành cũng như kẻ dữ, thì tại sao chúng ta phải phân biệt thương ai ghét ai? 

VÌ THẾ, HÃY NÊN HOÀN THIỆN NHƯ CHA CHÚNG TA TRÊN TRỜI LÀ ĐẤNG HOÀN THIỆN.

******** 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một trái tim  quảng đại như Chúa, vươn lên cao vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ; Thay vì toan tính phục thù, chúng con biết cầu nguyện cho những người làm hại chúng con; xin cũng cho vòng tay chúng con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét chúng con. Amen.

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

LỄ TẤT NIÊN


Trong bối cảnh của ngày cuối năm Âm Lịch, chúng ta cũng có dịp nhìn lại suốt một năm qua với bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình, giờ còn lại điều gì? Chúng ta đã thương ai và đã quên ai, chúng ta đã làm được gì cho Chúa và cho nhau… Hay tất cả chỉ còn là con số không? Chúng ta nhìn lại, không phải để thất vọng và nuối tiếc, nhưng nhìn lại để tạ ơn Thiên Chúa vì một năm đã trải qua đủ vui buồn sướng khổ, nhưng tất cả đều trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng Mẹ Maria cất cao lời tạ ơn Thiên Chúa qua bài Magnificat mà bài Tin Mừng hôm nay ghi lại.

Tuy lời kinh hoạ lại tâm tình của bà Anna mẹ của Samuel (x. 1Sm 2, 1- 10) cùng với những chắt lọc ý nguyện của các lời kinh Cựu Ước đương thời, nhưng quan trọng hơn cả là được đọc trong một tâm tình của một người nữ tỳ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa và cộng tác trực tiếp trong chương trình cứu độ. Kinh Magnificat được khởi đầu bằng niềm vui của một con người được cứu độ (x. Lc 1, 47), kế đến nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những ai hèn mọn (x. Lc 1, 48- 53) . Đặc biệt, điều được nói đến nhiều nhất là sự đối nghịch giữa thế lực giàu và người nghèo bị áp bức, và Thiên Chúa đã yêu thương cứu giúp người nghèo khó khiêm hạ. Có thể nói, Mẹ Maria đã cất lên bài ca của những người bị áp bức, mà trong đó Mẹ và bà Elisabeth diễn tả mối bận tâm của mình dành cho dân Israel. Mẹ Maria đã nhận vào trong con người của Mẹ một cảm thức và mối bận tâm của bà Anna sau khi bà này sinh hạ Samuel, và ca ngợi về tất cả những điều này vào trong một bài ca biết ơn. Thánh sử Luca giữ lấy cảm thức này cho chúng ta trong kinh Magnificat mà ngài đặt như là một lời dẫn cho việc công bố của Đức Giêsu về sứ mạng của Người là giải phóng người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi (Lc 4, 18- 19). Khi hát lên lời này, Đức Maria như muốn tuyên bố, Thiên Chúa không đánh giá con người theo tiêu chuẩn trần thế. Những con người thành đạt, giàu sang và leo lên đỉnh cao quyền lực, có lẽ sẽ làm cho mọi người kính nể và sợ sệt, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Giàu sang và quyền lực trần thế chỉ là thứ chóng qua như “con người chóng qua như cỏ”. Thiên Chúa chú tâm đến người góa bụa, trẻ mồ côi, người hèn mọn, những con người không có chút quyền hành gì, những con người vô tích sự trước mắt người đời. Kẻ giàu sang quyền thế thường thoả mãn về mình; người nghèo hèn chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Kinh Magnificat là tuyên ngôn: Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và người bị áp bức; phúc cho người nghèo vì có Thiên Chúa là Đấng luôn chăm sóc họ. Mẹ Maria là mẫu gương sự nghèo khó và lời kinh Magnificat mà Mẹ hát lên phản ánh việc Mẹ đứng về phía những người bị áp bức. Điều này làm cho lời kinh này mang một tính cách mạng vĩ đại: cần phải thay đổi vị trí xã hội để mọi người được bình đẳng trước mặt Thiên Chúa. Vậy, chúng ta hãy mời Mẹ cùng vào nhà chúng ta, cùng đến gia đình chúng ta để cùng “ăn tất niên” và ca ngợi Thiên Chúa với chúng ta.

********

Lạy Chúa, xin ban cho mọi người chúng con bắt đầu một năm mới tràn đầy niềm tin, lòng mến và hy vọng, biết phấn đấu sống từng ngày trong sự yêu thương quan phòng của Chúa. Để năm mới này, chúng con thêm đổi mới, từ tâm hồn đến thể xác, nên con người mới là chỉ biết sống cho Chúa và tha nhân. Amen.

THỨ NĂM SAU LỄ TRO


Người bảo rằng: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại”. (Lc 9, 22)

Một trong những cám dỗ thường xuyên của con người hôm nay là tìm kiếm một Chúa Giêsu không thập giá, một thứ Tin Mừng không nhuốm mồ hôi nước mắt và một thứ Kitô giáo dễ dãi. Điều này đi ngược với lời rao giảng của Chúa Giêsu khi Người mời gọi mọi người đi theo Người: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất ; còn ai liều mạng sống mình vì Ta thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Lc 9, 23-24).

Theo lẽ thường tình của con người, chúng ta biết rằng chẳng ai đạt được thành công trong cuộc sống mà không phải trả giá cho những thành công ấy. Để có ngày tốt nghiệp, người học sinh, sinh viên phải cực khổ, miệt mài đèn sách học hỏi. Để có được mùa gặt bội thu, người nông dân phải lao động vất vả trên cánh đồng. Trong tương quan tình yêu cũng thế, người ta cũng phải trả giá đau khổ vì yêu và vì yêu nên chấp nhận đau khổ. Nói đến tương quan tình yêu, chúng ta không thể không nói đến tình yêu giữa cha mẹ và con cái. Vì yêu con, nên cha mẹ phải hy sinh, vất vả, cực khổ để nuôi dạy con nên người. Vì yêu con, nên cha mẹ sẵn sàng dành tặng cho con những gì là tốt đẹp nhất, kể cả sự sống của mình. Như thế, đau khổ chỉ có giá trị trong tình yêu, và tình yêu làm cho đau khổ có một giá trị cứu độ. Trên nền tảng không tách rời giữa tình yêu và đau khổ, chúng ta cùng gặp gỡ khuôn mặt Chúa Giêsu – Đấng đã chết, đã chịu đau khổ vì yêu thương nhân loại. Có thể xác tín rằng Cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu là đỉnh cao của một tình yêu hiến tế, tình yêu thập giá. Một khi sống yêu thương thì phải chấp nhận hy sinh, chấp nhận thập giá, chấp nhận mất đi mạng sống mình vì hạnh phúc của người mình yêu như lời Chúa Giêsu nói “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Vì lý tưởng tình yêu của mình, Chúa Giêsu sẵn sàng đón nhận sứ mạng khi đến trần gian là “để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn dân” (Mc 10,45). Vì lý tưởng tình yêu của mình, Chúa Giêsu đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2,6-9). Như thế chúng ta thấy con đường tình yêu hiến tế mà Chúa Giêsu đã đi là con đường dẫn đến vinh quang phục sinh. Người đã đi đến tận cùng của mầu nhiệm tự hủy như hạt lúa mì rơi xuống đất và chịu thối đi để sinh nhiều hoa trái.

Hôm nay, Chúa Giêsu cũng mời gọi mọi người đi theo con đường của Người : Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất ; còn ai liều mạng sống mình vì Ta thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Lc 9, 23-24). Tiếp bước Chúa Giêsu, lịch sử Giáo Hội ghi nhận biết bao những tấm gương anh hùng sống mầu nhiệm tình yêu hiến tế theo gương Thầy Chí Thánh. Còn chúng ta hôm nay thì sao? Có nên từ bỏ ý riêng để vác thập giá mình đi theo Chúa Giêsu không? Trước hết, vác thập giá theo Chúa Giêsu có nghĩa là phải thực hiện trọn vẹn mọi chiều kích của giới răn yêu thương như Chúa Giêsu đã làm gương dù phải gặp nhiều đau khổ, hy sinh, thua thiệt. Vác thập giá theo Chúa Giêsu còn là can đảm uống cạn chén đắng khi để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, làm chủ trọn vẹn cuộc đời mình. Như thế, vác thập giá theo Chúa Giêsu là điều chẳng dễ dàng chút nào. Và rất có thể chúng ta cũng như Phêrô khi ngăn cản Chúa Giêsu lên Giêrusalem để chịu chết, để rồi chúng ta sẽ bị Chúa Giêsu khiển trách : “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23). Chúng ta sẽ bị Chúa Giêsu khiển trách vì đã không cố gắng thực hiện chương trình của Thiên Chúa, mà chỉ muốn thực hiện kế hoạch của riêng mình hay theo khuynh hướng của trần gian. Tiếp theo, vác thập giá đi theo Chúa Giêsu còn là việc chu toàn bổn phận hàng ngày. Điều này cũng chẳng dễ dàng chút nào, vì có những lúc thập giá cuộc đời sao mà nặng nề quá, chúng ta chỉ muốn buông xuôi, mặc cho dòng đời đưa đẩy.

Trước những cám dỗ, thử thách khi sống mầu nhiệm thập giá, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho chúng ta thêm hiểu biết Lời Chúa và thêm sức mạnh của bí tích Thánh Thể để có thể vững bước trong tin yêu và hy vọng, để chúng ta can đảm chịu đau khổ thập giá vì yêu thương và để cùng được Phục Sinh vinh quang với Người.

*******

Lạy Chúa, trong cuộc sống hàng ngày, chúng con phải đối diện với những cám dỗ, thử thách khi sống mầu nhiệm tình yêu thập giá. Xin Chúa cho chúng con thêm hiểu biết Lời Chúa và thêm sức mạnh nhờ bí tích Thánh Thể để chúng con có thể vững bước trong tin yêu và hy vọng, đồng thời để chúng con can đảm chịu đau khổ thập giá vì yêu thương và để cùng được Phục Sinh vinh quang với Chúa. Amen.

Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

THỨ TƯ LỄ TRO

Thứ tư lễ tro là ngày khởi đầu cho một mùa sám hối trở về, “Mùa chay tịnh”. Như dân thành Ninivê xưa xức tro lên đầu, ăn năn khóc lóc vì những lỗi lầm xúc phạm đến Thiên Chúa. Ngày nay, người Kitô hữu cũng thú nhận thân phận yếu đuối, tội lỗi của mình qua việc lãnh nhận tro bụi. Những hạt tro nhắc nhớ thân phận con người được Thiên Chúa nắn tạo từ chúng và mai sau, khi kết thúc cuộc đời này, con người cũng phải trở về bụi tro mà thôi. Bài Tin Mừng của ngày lễ tro hôm nay nói về sự công chính của người Do Thái dựa trên 3 lãnh vực: Bố thí, cầu nguyện và ăn chay.  Tuy nhiên, ðối với Chúa Giêsu, việc giữ những ðiều luật này không hệ tại ở số lượng mà là ở tinh thần, làm vì ai và vì mục ðích nào: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6, 1).

Cả ba việc mà Chúa Giêsu dạy hôm nay đều có hai vế rõ ràng: “đừng và nên” Đừng như bọn giả hình khoe khoang và nên kín đáo không cho tay trái biết việc tay phải làm, nghĩa là cần khiêm tốn, âm thầm hết sức có thể, không tìm tự mãn, tự hãnh diện về công viêc mình làm ngay ở trong lòng, trong chính con người của mình. Chỉ như thế, Thiên Chúa mới trả công cho ta được. Thật bậy, khi tìm tiếng tăm hay lời khen khi bố thí, hay làm công phúc, thì hành động bố thí ấy không còn là việc làm bác ái xuất phát từ sự quảng đại, cũng không phải vì lòng yêu mến Chúa, mà là vì mình, làm phúc để mua lời khen hay sự hậu đãi nể nang của người khác. Trái lại Chúa muốn chúng ta làm tất cả các việc bác ái phải phát xuất từ tấm lòng yêu thương thực sự muốn chia sẻ, như thế, bác ái Kitô giáo không chỉ là cho đi, là trao tặng những của mình dư thừa, mà dám cho đi cả những cái mình đang cần, khi thấy anh em mình cần hơn. Chia sẻ với anh em, là nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa ở nơi người anh em ấy; giúp đỡ vào những việc chung là góp sự hy sinh của bản thân và gia đình vào việc làm sáng danh Chúa. Vì thế chính Chúa là Đấng sẽ trả công cho mỗi người tùy theo sự quảng đại của họ đối với Chúa và đối với anh em. Ngày nay, người Kitô hữu sống tinh thần bác ái thế nào ? Có người khi bố thí hoặc công đức, yêu cầu khi khánh thành một công trình nào đó phải được nêu danh giữa cộng đoàn hoặc phải có điều kiện này nọ, Nhưng cũng có những bà góa gom góp tất cả những gì mình có mà chỉ nói: Xin đừng nêu tên con hoặc chỉ đề: một người vô danh ... Chúng ta hãy tự xét, xem mình thuộc hạng người nào.

Thêm nữa, Chúa Giêsu dạy về cách thức cầu nguyện. Cầu nguyện là hơi thở và là sức sống của kẻ có đạo, và hơn thế nữa cầu nguyện là thể hiện tư cách là con cái Chúa, là cuộc gặp gỡ thân tình với Thiên Chúa, vì vậy Chúa muốn mỗi người hãy vào phòng đóng cửa lại để cầu nguyện, tức là hãy vào trong sự thinh lặng của tâm hồn, là để tâm hồn thật thanh thản nhẹ nhàng mỗi khi gặp gỡ Chúa. Như vậy, vào phòng đóng cửa lại để cầu nguyện có nghĩa là trò chuyện riêng tư với Chúa ở ngay trong tâm hồn, và như thế chúng ta có thể gặp gỡ và cầu nguyện với Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào: ở nhà thờ, ở nơi làm việc, khi đi đường, lúc ở nhà. Một cái cám dỗ rất lớn ngày hôm nay đối với nhiều người đó là lười cầu nguyện, không cầu nguyện là một tâm hồn không có sức sống, không cầu nguyện nó còn là dấu chỉ của một tâm hồn kiêu căng không biết cậy dựa vào Thiên Chúa, là một thái độ sống vô ơn trước những ơn lành của Thiên Chúa. Bắt đầu từ mùa chay này mỗi người hãy dành nhiều giờ hơn cho việc cầu nguyện gặp gỡ Chúa mỗi ngày, hãy tổ chức lại giờ kinh giờ cầu nguyện mỗi tối ở nơi gia đình, vì khi tụ họp lại bên nhau trước mặt Chúa, Chúa sẽ hiện diện và biến đổi mỗi thành viên trong gia đình nên tốt hơn, Chúa sẽ bảo vệ hạnh phúc và sự êm ấm của các gia đình.

Sau cùng là việc chay tịnh, chay tịnh không chỉ là hình thức bên ngoài kiêng gì hoặc ăn gì, cũng không phải là hình thức ủ rũ sầu não, ăn nhiều hay ăn ít, mà là biết kiềm chế những khoái lạc những dục vọng đam mê trong con người, tức là biết làm chủ bản thân của mình, không để mình bị buông theo những thỏa mãn xác thịt, không để mình bị lôi kéo bởi ăn uống rượu chè say sưa; Chay tịnh còn là bớt những chi tiêu không cần thiết để làm việc bác ái công ích. Như thế chay tịnh tức là biết cắt gọt những cái không cần thiết trong cuộc sống và giũ bỏ những tính hư tật xấu như rượu chè, cờ bạc, số đề, nó đang phá hủy hạnh phúc của nhiều gia đình và làm những việc giúp ích cho linh hồn mình và cho hạnh phúc của anh em. Cho đến ngày hôm nay còn một số người vẫn lấy lý do giải trí trong gia đình để tổ chức cờ bạc từ ông bà cha mẹ đến con cháu ngồi chung một sòng. Vấn đề nó không chỉ là sát phạt nhau, mà nó đã hủy hoại trật tự trong gia đình, sẽ là cá mè một lứa, nó là gương xấu và tập cho con cháu tính ham mê cờ bạc, tội đó không phải là tội nhẹ, Chúa nói là những kẻ làm gương xấu cho trẻ thì thà buộc cối đá vào cổ mà quăng xuống biển. Mùa chay này, hãy dứt khoát với những đam mê ấy.

TÓM LẠI: làm phúc bố thí, cầu nguyện và ăn chay là ba sinh hoạt chính trong đời sống đạo đức và là tinh thần của việc giữ mùa chay thánh, nhưng để trở thành phương thế đền tội và có công phúc trước mặt Chúa không hệ tại ở số lượng hay được ghi nhận từ người đời, mà là xuất phát từ tấm lòng chân thành cùng với tâm tình riêng tư giữa ta với Chúa. Mùa chay này là dịp để mỗi người đừng chỉ nói chung chung, mà hãy từ bỏ, sửa chữa một vài tật xấu cụ thể trong cuộc sống cá nhân cũng như trong gia đình của mình, dám chấp nhận một cuộc canh tân lột xác trong đau đớn, thực hiện liên lỉ các việc đạo đức: Cầu nguyện, chay tịnh và bác ái, hay nói như Thánh Phaolô trong bài đọc hai hôm nay: Anh em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để trở nên vô hiệu, mùa chay này có thể là mùa chay cuối cùng, là cơ hội cuối cùng Chúa cho ta để làm lại cuộc đời, đừng bỏ lỡ cơ hội này và đừng để mùa chay qua đi cách uổng phí mà không sinh hoa trái.

********

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã từng vào sa mạc để ăn chay cầu nguyện bốn mươi ngày đêm, xin cho chúng con cũng biết dùng mùa chay thánh này, để sống thật tốt với việc làm phúc, cầu nguyện và ăn chay theo tinh thần Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN


Tôi bảo thật cho các ông biết : thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả. (Mc 8, 12b)

Chúa Giêsu đã có nhiều dấu lạ, cụ thể là hai lần hóa bánh ra nhiều cho bốn ngàn người ăn no nê, Người đã trừ ma quỷ, chữa nhiều chứng bệnh khác trong dân. Chúa Giêsu chính là dấu lạ của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa hạ mình xuống gần gũi với loài người, xóa bỏ mọi khoảng cách giữa thần linh với phàm trần, giữa thánh thiện với tội lỗi, giữa cao cả với nhỏ bé mong manh. Là phàm nhân tội tỗi, chúng ta không có quyền đòi hỏi Thiên Chúa nhưng vì yêu thương Thiên Chúa đã cho ta tự do để chọn lựa tốt xấu, tự do tin nhận hay chối từ. Những người Pharisêu đã không chấp nhận vị Thiên Chúa khiêm tốn nhỏ bé đang hiện diện để thông chia mọi niềm vui nỗi buồn và cả những giới hạn vụn vỡ của thân phận con người. Khi rao giảng về tình thương cứu độ của Thiên  Chúa, Chúa Giêsu luôn hiện thực hóa tình thương ấy bằng những việc làm cụ thể, bằng sự cho đi không tính toán, bằng sự hiến dâng trọn cả mạng sống mình trên thập giá. Quả thế, Chúa Giêsu đã đến cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Mỗi công việc Người làm đều nhằm mang hạnh phúc đến cho con người. Phép lạ biến nước lã thành rượu ngon là để chúng ta hưởng nếm sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa. Phép lạ hóa bánh ra nhiều để chúng ta tin nhận Thiên Chúa là Đấng ban sự sống. Suốt hành trình rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã chữa lành bao nhiêu thứ bệnh hoạn tật nguyền. Người xua trừ ma quỷ để con người thấy được quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa. Đi tới đâu Chúa Giêsu cũng thi ân giáng phúc cho con người, an ủi kẻ sầu khổ, nâng đỡ người yếu đuối, trả lại địa vị và phẩm giá cho người bị áp bức... 

Tuy nhiên, người pharisiêu lo sợ Chúa Giêsu hưởng hết các phúc lợi của họ, khi dân chúng bỏ họ mà theo Chúa, vì thế, họ mới tranh luận với Ngài. Nhưng chúng ta không thấy Maccô đưa ra vấn đề để tranh luận mà ngài đi thẳng vào vấn đề cốt lõi “ đòi dấu lạ”. Tại sao họ lại đòi dấu lạ khi họ vừa chứng kiến một dấu lạ nhãn tiền: 7 chiếc bánh và mấy con cá nhỏ cho 4000 người no nê mà vẫn còn thừa? Thánh Maccô nói vắn gọn: “ Để thử Người”. Đây là để trả lời vấn nạn này, cốt lõi vấn đề, là điểm chính mà người pharisiêu cất công tụ họp bàn tán. Hậu quả này mang dấu vết “ Kinh Thánh”. Xưa kia trong hoang mạc, dân Israel đã thử thách Thiên Chúa bằng hết các phép lạ, dấu lạ lớn nhỏ ( x. xh 16,1-36; Ds 14, 1-38). Bây giờ, có lẽ họ muốn Chúa Giêsu chứng tỏ cho họ thấy thần tính và uy quyền của Ngài, một “ Mêsia trần tục” theo kiểu của họ. Đây là cơn cám dỗ mà Satan đã sử dụng trong sa mạc, khi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ ( x. Mt 4,1-11). Đã bao lần Chúa Giêsu làm phép lạ vì chạnh lòng thương, vì lời van xin của bệnh nhân, vì  lòng tin của dân chúng… Nhưng lần này Ngài lại từ chối và khẳng định họ sẽ không được một dấu lạ nào. Vì sao vậy ? Có lẽ vì thời khắc của Ngài chưa đến. Vì Ngài không muốn họ hiểu sai về sứ vụ của Đấng Mêsia và những dấu lạ sẽ là mối nguy hiểm cho niềm tin của họ đối với Thiên Chúa, xem Thiên Chúa như một thầy phù thuỷ bùa phép hay một nhà ảo thuật với những xảo kế tuyệt vời. Và có lẽ Ngài muốn họ đến với Ngài bằng niềm tin, chứ không bằng sự nghi ngờ hoặc đặt điều kiện này nọ “đòi dấu lạ, để thử…” Nhưng phép lạ phải trở nên “ dấu chỉ” về Tình Yêu Thiên Chúa đối với con người và hướng tâm hồn con người đến với ân sủng thiêng liêng. Vì thế, mà ta thấy Chúa Giêsu bực mình đến thở dài não ruột (x. Mc 8, 12). Câu hỏi Ngài đưa ra cho họ như một lời tố cáo, lời trách cứ sự cứng lòng của họ ( x .Tv 95,10). Và kết thúc Ngài bỏ đi và để họ ở đó với những đòi hỏi thái quá của họ ( x. Mc 8, 13 ) mà qua bờ bên kia. Lúc nào cũng thế, Ngài không để lòng mình bị chao đảo trước những thách thức của con người và cám dỗ của cuộc sống. Sứ mạng của Ngài là đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Đôi lúc chúng ta cũng có thái độ giống người Pharisêu, chúng ta thách thức và đòi hỏi Thiên Chúa thực hiện những phép lạ theo sự tính toán nhỏ hẹp của con người. Chúng ta không dám buông trọn đời mình cho sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta nài ép Chúa đi theo con đường ta vạch sẵn, làm theo những gì ta đã lập trình. Để nhận ra “dấu lạ” của Thiên Chúa, chúng ta phải bỏ đi lối nhìn “pharisêu biệt phái” mà mặc lấy tâm tình đơn sơ khiêm tốn. Chúa Giêsu là dấu lạ của tình yêu thương, vì thế chúng ta phải bỏ đi thành kiến đố kỵ thách thức và mở rộng con tim để lãnh nhận tình yêu trao dâng.

TÓM LẠI:  Qua đoạn Tin Mừng rất ngắn này, chúng ta soi mình trong những hành vi của người pharisiêu.  Có bao lần chúng ta đến với Chúa để hạch hỏi Người: Tại sao? Vì sao điều đó lại xảy ra với con? Hoặc có khi nào chúng ta đòi Chúa phải cho con điều này, ban cho con ơn kia, thì  con mới tin Chúa , hay mới giữ đạo? Có bao giờ chúng ta đã thử thách Chúa, khi không tin tưởng phó thác vào Ngài mà chỉ cậy dựa trên: địa vị, của cải… đời này?

******

Lạy Chúa, mỗi ngày chúng con lãnh nhận biết bao hồng ân từ lòng thương xót của Chúa. Hồng ân lớn nhất đó là hồng ân được sống làm người, được làm con cái Chúa. Xin cho chúng con nhận ra những “dấu lạ” yêu thương ấy để từng ngày sống chúng con biết cộng tác với ơn Chúa, biết quảng đại phục vụ xây dựng cuộc sống tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Amen.