Translate

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

HÃY NÊN HẠT MUỐI NHƯ CHÚA MỜI GỌI….!


Muối bình dị

Đức Giêsu không ân cần mời gọi tín hữu trở nên những cao lương mỹ vị quý hiếm và đắt giá, như sâm, nhung, yến. Chẳng kêu gọi trở nên những ngôi sao trong lãnh vực văn hóa, thể thao, nghệ thuật, kinh doanh hay chính trị. Cũng chẳng mong đợi mọi người trở nên VIP, thần tượng, vĩ nhân, được đông đảo quần chúng hâm mộ quý mến. Người chỉ mong muốn tín hữu trở nên hạt muối bình dị, khiêm tốn, phổ thông, hay đúng hơn là một gia vị dân dã, giản dị, bình thường, hữu dụng, thiết yếu, gần gũi với mọi người, mọi nơi và mọi thời.

Hạt muối không phải cầu kỳ chế biến, trắng tinh, không hương, không sắc, đơn sơ, hiền lành, chung thủy. Mỗi khi đau yếu, bệnh nhân yếu sức thường chỉ có thể húp cháo trắng nêm chút muối trắng, vừa an toàn, vừa dễ hấp thụ. Hạt muối còn công dụng tẩy trùng, sát khuẩn, làm sạch, bảo quản thực phẩm khỏi hư hoại, giữ thức ăn lâu bền.

“Những gì cần thiết cho cuộc sống con người là nước, lửa, sắt và muối, tinh bột lúa miến, sữa và mật, nước nho, dầu và áo quần.” (HC 39, 26)

Muối dễ tan

Hạt muối chân chất, khiêm cung, khả ái, lại dễ dàng hòa nhập vào thực phẩm, thức ăn. Muốn cởi mở, dấn thân, sẵn sàng hy sinh tan biến đi, sẵn sàng phục vụ tha nhân. Muối không quyến luyến, vấn vương, lưu giữ chút gì cho mình, hoàn toàn xả kỷ vị tha. Sống và chết cho tình yêu.

“Đây là bằng chứng để ta biết được lòng mến, là Đấng ấy đã thí mạng vì ta; và ta , ta cũng phải thí mạng vì anh em.” (1Ga, 3, 16)

Con hỏi cha:”Đâu là mức độ dấn thân?”Hãy làm như Chúa Giêsu:”Thí mạng.” Nếu con tuyên bố rùm beng, hoạt động khơi khơi, sống đạo lè phè, con sợ cơ cực, sợ nghèo, sợ tù, sợ chết,…Nếu con dấn thân lối ”cứu viện cho người thắng trận,” thì thôi, nên dẹp tiệp, “dấn thân trá hình,” “dấn thân thương mãi.” (Đường Hy Vọng, số 612)

Muối đậm đà

Trong dân gian, dân Việt thường nói: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.” Nên vào ngày Mồng Một Têt, người ta hào phóng mua chén muối đầy có ngọn, là mua cái sự mặn mà về nhà cho cả năm. Trong đời sống hàng ngày của đồng bào miền Bắc, muối có một vị trí rất quan trọng và chỉ đứng sau gạo. Người xưa quan niệm muối là thứ mặn, chống xú uế, xua đuổi tà ma, và đem lại nhiều may mắn trong gia đình. Mua muối đầu năm cũng có ý nghĩa trong văn hóa dân gian, mang lại sự đậm đà cho các mối quan hệ gia đình, sự hòa thuận giữa vợ chồng, con cái. Cuối năm mua vôi là mua cái sự bạc bẽo cho xong, đem bỏ đi, để đầu năm lại mặn mà, may mắn.

 “Các ngươi phải bỏ muối vào mọi lễ phẩm các ngươi dâng tiến; các ngươi không được để lễ phẩm các ngươi thiếu muối giao ước của Thiên Chúa các ngươi; các ngươi phải dâng muối cùng với mọi lễ tiến của các ngươi.” (Lv 2, 13)

Đức Giêsu đòi hỏi người Kitô hữu trở nên “Muối thế gian,” để gìn giữ và làm cho thế gian mặn nồng trong giao ước với Thiên Chúa. Nếu muối biến chất, lạt lẽo, vô vị, thì chẳng đáng gì nữa, môn đệ coi như đáng bị loại ra ngoài, chẳng tiếc thương. “Muối quả là một cái gì tốt. Nhưng chính muối mà nhạt đi, thì lấy gì ướp nó cho mặn lại? Nó chẳng còn thích hợp để bón đất hay trộn phân nữa, nên người ta quăng nó ra ngoài.” (Lc 14, 34-35)

“Sống bổn phận hiện tại không phải là thụ động, nhưng là liên lỉ canh tân, là quyết định chọn hay chối Chúa, là tìm nước Chúa, là tin ở tình yêu vô bờ của Chúa, là hành động với tất cả hăng say, là thể hiện mến Chúa yêu người, “ngay trong giây phút này.”(Đường Hy Vọng, số 26)

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, chúng con phận hèn, yếu đuối, chẳng thể đáp ứng được sự mong đợi của Chúa, trở nên muối thế gian, thánh hóa thế gian, vì chúng con còn đang mải mê làm tôi mọi cho thế gian, với những dục vọng, đam mê xác thịt đê hèn. Xin Chúa thương xót cứu giúp, ban thêm chúng con lòng tin, đức cậy, lửa mến dồi dào, để chống lại ba thù, luôn hăng say bước theo Chúa trên đường hy vọng.


Lạy Mẹ Maria, Mẹ là muối tinh tuyền, là ánh sáng soi vào đêm tối thế gian, khấn xin Mẹ luôn ướp chúng con vào Giao Ước thánh thiện với Thiên Chúa, hầu chúng con được ơn cứu rỗi. Amen.

MUỐI ĐẤT VÀ ÁNH SÁNG TRẦN GIAN (Mt 5,13-16 )



1. Các con là muối đất

Muối có những công dụng nào? Muối là một sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người. Muối vừa làm phân bón cho đất đai màu mỡ; vừa làm gia vị cho các món ăn thêm thơm ngon đậm đà; vừa bảo quản thực phẩm cho khỏi hư thối. Muối còn được dùng để trị bệnh: đắp vào chỗ trặc gân, bong gân; muối sát trùng, để giúp tiêu hóa, để lưu giữ và chuyển tải I-ốt, ngăn ngừa bệnh tật.

Muốn cho những công dụng này tác dụng được thì muối cần phải như thế nào? Cần phải mặn và hòa tan. Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng. Mặn thuộc về bản chất của muối. Phải chấp nhận hòa tan nhưng không đánh mất chính mình. Cũng như Đức Giêsu, qua mầu nhiệm Nhập thể, Ngài hòa nhưng không đánh mất chính mình, vì Ngài không thể phạm tội.

Khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng chính anh em là muối đất thì Ngài muốn nói gì? Chúa muốn các môn đệ ý thức tầm quan trọng của họ trong thế gian.

- Ướp: đặc tính muối của người môn đệ là muối cho người khác.

- Nêm: không có các môn đệ, trần gian sẽ u buồn, không có hương vị vì đời vô nghĩa. Không phải chỉ những người đã rửa tội mới là muối cho đời, nhưng là những người nghe và giữ lời Thiên Chúa, người sống yêu như Chúa sống.

Muốn sống như thế người môn đệ phải làm thế nào? Đừng có nhạt đi, phải trung tín với chính mình và với sứ điệp Tin Mừng. Vị mặn là bản chất của muối, nếu mất vị mặn thì không còn là muối. Khi đánh mất bản chất của mình, nó cũng hoàn toàn trở nên vô dụng. Người môn đệ không còn vị mặn là đánh mất bản chất tông đồ của mình.

Tại sao nói muối nhạt đi? Có hai cách giải thích:

- Giải thích hình ảnh theo muối bẩn đã được lấy vào thời Chúa Giêsu ở phía Tây Nam biển chết. Loại muối màu xanh nhạt này có pha trộn thạch cao và vôi, dễ biến thành bùn không dùng được vì bị ẩm ướt. Người ta còn gọi đó là muối nhưng thực ra không còn là muối.

- Cách giải thích thứ hai: Đức Giêsu gợi lên một hình ảnh không thể có, để làm cho ta chú ý hơn đến điều nghịch lý của một môn đệ đã đánh mất cái tạo nên chính bản chất môn đệ của mình.

2. Các con là ánh sáng trần gian

Ánh sáng là gì? là một loại vật chất mà nhờ nó, con người nhận thấy các sự vật xung quanh mình. Ở những nơi tối, người ta càng cần đến ánh sáng và càng nhận thức rằng ánh sáng rất cần cho cuộc sống. Có thể nói, không có ánh sáng, không thể có sự sống. Chính vì thế, ngày thứ nhất trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng. Khi có ánh sáng, người ta không thể che giấu được vật gì, tốt cũng như xấu.

Ánh sáng có những công dụng nào? Thấy, vui, đem lại sự sống, làm cho thấy những cái muốn cho thấy và cả những cái không muốn cho thấy.

Muốn phát huy tác dụng ánh sáng phải như thế nào? Phải để trên cao soi cho mọi người không trừ ai. Trong Kinh Thánh, ánh sáng thường có nghĩa mạc khải Thiên Chúa là Đấng Cứu độ.

Chúa muốn nói gì khi nói các con là ánh sáng thế gian? Ngài muốn các môn đệ ý thức vai trò của mình. Vai trò làm cho người ta thấy Thiên Chúa và làm cho họ có niềm vui.

Làm thế nào để thực hiện vai trò này?

- Phải sống như con cái ánh sang.

- Phải được để trên cao.

3. Những điều cần học qua hai hình ảnh “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian”.


Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn, nhưng làm cho bữa cơm thêm thơm ngon đậm đà. Ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi cho người ta thấy rõ đường đi, cho con người nhận ra nhau, cho quan hệ giữa người với người thêm trong sáng chân thành. Để được như thế, cả muối và ánh sáng đều phải chịu hao mòn, hy sinh mới thực sự có ích cho đời. Muối tan dần đi, ngọn đèn ngày càng hao mòn. Vậy, lý do tồn tại của cả hai là để đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác. Nếu muối không mặn và đèn không sáng thì không có ích gì nữa, chỉ nên vất ra đường phố cho người ta chà đạp và khinh bỉ.

NỖI LÒNG NGƯỜI CHĂN CHIÊN

Tình thương thúc đẩy, chàng chuẩn bị lương thực, với cây gậy gỗ, chàng dẫn chiên lên đường. Ðường lên núi chỉ có mình chàng. Trên trườn núi mênh mông, chàng tiếp tục đi, can đảm. Chàng chỉ có một niềm vui: tình thương cho bầy chiên. Bầy chiên gặp cỏ non thì hớn hở. Chúng ham ăn, quên người chăn. Chàng ngồi đó, trên bờ đá. Ánh nắng làm bóng chàng đổ dài trên nền cỏ.

Người chăn chiên biết đâu là cỏ non. Nơi nào có suối trong lành. Chiên chẳng biết gì. Nhưng làm sao để chiên nghe lời chủ. Ðấy là nỗi khổ tâm của người chăn chiên. Ðó là nỗi khổ tâm của Chúa đối với nhân loại.

Khi chợt thấy bãi cỏ xanh trước mắt, mầu xanh quyến rũ. Bầy chiên nôn nao ùa tới. Cũng như con người trong lúc hoang vu, buồn chán, chợt thấy bóng hạnh phúc mờ ảo, cứ ngỡ là cơn mưa tươi mát, đã sa ngã. Người chăn chiên thì biết đám cỏ xanh kia tuy có đẹp nhưng nó mọc trên đám bùn, nơi đó đầy đỉa độc và rắn xanh. Nếu chiên đến ăn sẽ sa lầy, sẽ bị đỉa cắn, sẽ bị rắn độc giết chết. Ðằng sau mầu xanh đẹp mắt là thuốc độc. Nhưng chiên đâu biết thế. Chiên cứ muốn xuống. Chiên chẳng nghe lời chủ. Và người chăn chiên se sắt cõi lòng khi thấy chiên mình chết.

Chúa cũng vậy, bao lần con người đã đi tìm hạnh phúc giả trong tội lỗi. Những hạnh phúc giả vì bất trung trong tình nghĩa vợ chồng. Những hạnh phúc giả vì gian tham bất chính, vì những rung cảm trái phép. Chẳng ai muốn hạnh phúc giả. Chỉ vì lười biếng đi tìm hạnh phúc thật nên thấy bất cứ đám cỏ xanh nào cũng chạy lại. Chúa biết rõ đâu là hạnh phúc đem bình an. Chúa cản ngăn và con người đã than trách. Chúa đau lòng. Nhưng biết làm sao. Vì thương chiên mình nên vẫn phải ngăn cấm. "Chúa thương ai Người mới sửa dạy, Người nhận ai làm con, Người mới cho đòn. Vì còn gì là con nếu người cha không dạy" (Hr 11,5-10). Sửa dạy thì có đau đớn. Nhưng nếu không sửa dạy thì người cha không còn là cha nữa.

Sau những ngày đầu bình yên. Chàng đã nghe tiếng sói rừng sủa văng vẳng đâu đó. Bây giờ là chiến đấu với giao tranh. Ðêm đêm, chàng thức giấc một mình nhìn núi lặng lẽ mà nghe xao xuyến. Riêng chiên cứ ngủ yên vô tư. Mỗi khi gió trời chuyển mưa là chàng ướt lạnh. Lạnh cả thân xác và lạnh cả tâm hồn vì yêu thương chiên.

Sói đã đến vào một tối.

Chiến đấu nào mà không cam go. Bởi thế, chẳng mấy ai là người chấp nhận gian nan vì kẻ khác. "Kẻ làm công thì không màng đến chiên, khi thấy sói đến thì bỏ chiên mà chạy trốn. Chỉ có người chăn chiên thương chiên mình thì mới thí mạng sống vì chiên" (Ga 10,1-14). Chàng chiến đấu bảo vệ chiên. Chân rướm máu vì núi đá. Tay ê ẩm vì phải chống cự. Trận chiến nào cũng có phần thua thiệt. Lời Kinh Thánh đã loan báo: "Cứ chủ chiên mà bị giết thì đàn chiên sẽ tan tác" (Mt 26,31). Biết thế, sói tấn công chàng, sói muốn ăn thịt chiên. Nỗi đau của chàng không phải là thương tích chàng phải mang, mà là những tiếng kêu của chiên con bị thương. Nhìn vài con chiên nhỏ phải đi tập tễnh, lòng chàng như tơ chiều chùng xuống. Thương yêu quá đỗi. Chiên thì chẳng biết tâm sự chủ mình. Chúng cứ vô tư.


Ðó là tâm tình của Chúa đối với con người?

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

TINH THẦN CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là cao điểm của đời sống người tín hữu. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta bỏ qua hay khinh thường những nhu cầu vật chất và tinh thần của đời sống. Trái lại, chúng ta dâng lên Chúa tất cả những nhu cầu đó, để bày tỏ tâm tình biết ơn, niềm vui sướng cũng như để cầu xin sự cứu trợ của Ngài, để Ngài thêm sức nâng đỡ những nỗi khó khăn bất lực của chúng ta nữa. Cha Anthony de Melo, một giảng viên rất nổi tiếng người Ấn Ðộ đã có lần kể rằng:

Con trai của Giáo Chủ đạo Bà Hai bên Ấn Ðộ. Một hôm, nhân lúc đi đường ông được mời nghỉ chân tại một gia đình rất khá giả, bà chủ nhà vốn có lòng hiếu khách, nên muốn trổ tài nấu ăn để làm vui lòng khách quí. Tiếc thay, khi dọn mâm cơm lên bàn bà đã phải khiêm tốn xin lỗi khách quí vì cái mùi khen khét của các món ăn. Bà phân trần: vì muốn bữa cơm thành công tốt đẹp, nên trong khi nấu nướng, bà đã cầu nguyện nhiều nên quên chú tâm vào công việc bà đang làm. Vị khách quí mĩm cười vui vẻ trả lời:

Việc cầu nguyện là điều rất tốt đẹp, nhưng lần sau, khi bà làm bếp, bà hãy cầu nguyện với quyển sách dạy nấu ăn thay vì quyển Kinh Thánh.

Chia Sẻ:

Câu trả lời của vị khách diễn tả một sự thật rất thực tế. Cầu nguyện không phải là trốn tránh trách nhiệm, cũng không ỷ lại vào quyền năng của Chúa để rồi khoanh tay làm biếng. Cầu nguyện giúp chúng ta đạt được những gì mà sức hạn hẹp chúng ta không thể thành công được. Cầu nguyện là chìa khóa của thành công, nhưng không phải là thứ thành công theo như trí khôn thấp kém của chúng ta mong ước, nhưng là thành công trong việc chấp nhận những gì mà trong sự khôn ngoan thông suốt của Chúa muốn dành để cho lợi ích và hạnh phúc của chúng ta.

Như thế, hoa trái đầu tiên của cầu nguyện là sự an bình của tâm hồn, là niềm vui triển nở trên gương mặt biết chấp nhận những khó khăn thử thách và các ý riêng mình. Chúng ta không cầu nguyện vì bị bó buộc hay gượng ép, nhưng bày tỏ cử chỉ phát sinh tự nhiên từ tình thương, từ tấm lòng người con thảo sung sướng được cởi mở tâm tình với cha mẹ, để nói lên hạnh phúc được làm con, được yêu thương và để bày tỏ lòng biết ơn đối với những hồng ân được cha mẹ ban tặng cho.


Cũng vậy, cầu nguyện còn là cơ hội tốt đẹp để chúng ta bày tỏ tình liên đới và hiệp nhất với người khác nữa, cả những khi cầu nguyện một mình, chúng ta vẫn có thể liên hiệp trong tinh thần với tất cả những người khác cũng đang cầu nguyện. Càng tiếp xúc gần gũi với những người đau khổ, việc cầu nguyện của chúng ta càng thêm phong phú và cảm thấy cần phải cầu nguyện nhiều hơn nữa.

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

CHÍNH ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI... CHÍNH ANH EM LÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN.” (Mt 5,13.14)


Lời Chúa Chúa Nhật V thường niên năm A cho chúng ta thấy bản chất của người Kitô hữu không phải là những gì cao xa nhưng chỉ là những hạt muối bé nhỏ hay chỉ là một chút ánh sáng lẻ loi. Thật bình thường và cũng thật tầm thường nhưng lại thật hữu ích cho đời sống con người. Không có muối làm sao có những bữa tiệc thơm ngon mặn mà. Không có ánh sáng làm sao con người có thể nhìn ngắm những vẻ đẹp muôn màu của vũ trụ mà Thiên Chúa đã dựng nên.

Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn. Nhưng muối làm cho người phụ nữ nội trợ thêm rạng rỡ niềm vui, cho bữa cơm gia đình thơm ngon đậm đà.

- Ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi cho người ta thấy rõ đường đi, cho con người nhận ra nhau, cho quan hệ giữa người với người thêm trong sáng chân thành. Mọi mối quan hệ còn ở trong bóng tối, thì đó chỉ là những mối quan hệ bất chính và tội lỗi.

Nhưng thân phận cả hai đều phải chịu hao mòn hy sinh thì mới thực sự có ích cho đời: muối tan dần đi, ngọn đèn ngày càng lụn xuống. Lý do tồn tại của cả hai là để gây tác động tốt : nếu muối không mặn và đèn không sáng thì không có ích gì nữa, chỉ nên vất ra đường phố cho người ta chà đạp và khinh bỉ.

Thân phận và hoàn cảnh của mỗi Kitô hữu khác nhau : có người âm thầm hèn mọn như hạt muối, có người rực rỡ huy hoàng như ánh sáng. Nhưng mọi người đều có sứ mạng phải tác động tốt lên môi trường mình sống. Không tác động tốt thì không còn là Kitô hữu nữa.

Là muối đất, là ánh sáng thế gian, hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta cần phải thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống tỏa lan tình người. Dù chỉ là một ngọn đèn mù mờ giữa biển khơi, cho dù phải đương đầu với biết bao sống gió nhưng vẫn phải giữ cho ngọn đèn đó cháy sáng, vì biết đâu xa xa ngoài khơi vẫn còn có ai đó đang cần một chút ánh sáng để định hướng vào bờ.

Mỗi người chúng ta cũng được Chúa mời gọi để thắp sáng cuộc đời kẻ khác. Mỗi người đều có một khả năng cá biệt để thắp sáng niềm tin cho anh chị em chúng ta và ướp mặn trần gian bằng tình yêu thương bác ái và cảm thông. Vì:

“Làm thân cây nến vào đời
Càng tiêu hao cháy, càng ngời vinh quang”


Nhưng tiếc thay, vì lười, vì ích kỷ, vì hèn nhát, ngọn đèn của chúng ta lu mờ dần đi và có khi tắt ngấm. Vì thiếu bác ái, thiếu lòng nhân từ nên những ai tiếp xúc với chúng ta đều cảm thấy mặn chát, khô cằn thiếu sức sống vui tươi.Xin Chúa giúp chúng ta dám hy sinh và từ bỏ mình mỗi ngày để trở nên ánh sáng và muối men cho đời. 

VỊ MẶN TIN YÊU

Ca dao Việt Nam ví von: “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Một cách so sánh giản dị nhưng thú vị và thâm thúy, cho thấy muối rất cần thiết cho con người.

Chia Sẻ:

Thật vậy, muối là loại khoáng chất bình thường nhưng thực ra muối lại đa dụng, có vị trí quan trọng trong đời sống, vì hằng ngày chúng ta sử dụng muối không chỉ để chế biến đồ ăn mà còn làm nhiều việc khác. Màu sắc của muối cũng rất đặc biệt: Trắng. Màu trắng nhắc nhở về sự trong sạch, trong trắng, tinh tuyền.

Muối không chỉ được dùng để bảo quản thực phẩm còn có khả năng diệt khuẩn, làm sạch vết thương, tẩy sạch vết bẩn, trị bệnh,… Khi người ta khóc, chất muối trong nước mắt giúp làm sáng mắt. Muối rất tốt, cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Cuộc đời chúng ta không thể sống thiếu muối. Những người nghèo không có cao lương mỹ vị, chỉ cần chút muối cũng có thể giúp dễ nuốt miếng cơm. Ngày xưa, người nghèo phải đi xin nước muối cà để về ăn cơm, nghĩa là chỉ cần chút chất mặn để ráng nuốt miếng cơm để giữ sự sống. Thật bất ngờ khi Viện Nghiên Cứu Muối (Salt Institute) cho biết có khoảng 14.000 cách sử dụng muối.

Chất mặn của đời thường thực sự cần thiết lắm, chất mặn của đời sống tinh thần càng cần hơn nhiều. Ngôn sứ Isaia đặt vấn đề: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?” (Is 58:6-7). Đó là “chất mặn” của Công Lý và Chân Lý. Không có loại “chất mặn” này thì xã hội sẽ đảo lộn, rối tung.

Khi có “chất mặn” đó thì “ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành, đức công chính sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau” (Is 58:8). Thật là kỳ diệu quá! Và ngôn sứ Isaia cho biết: “Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời, ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại: ‘Có Ta đây!’. Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người, nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ” (Is 58:9-10).

Cũng theo chiều hướng đó, tác giả Thánh Vịnh nói: “Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành: đó là người từ bi nhân hậu và công chính. Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn, biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình” (Tv 112:4-5). Và rồi hệ lụy hiển nhiên sẽ xảy ra: “Họ sẽ không bao giờ lay chuyển, thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân. Họ không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng không sợ hãi chi và rốt cuộc coi khinh lũ địch thù. Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc, đức công chính của họ tồn tại muôn đời, uy thế họ vươn cao rực rỡ” (Tv 112:6-9).

Người Việt cũng có cách nói tương tự: “Ở hiền gặp lành”. Cái “sự lành” ở đây mang ý nghĩa tâm linh hoặc tinh thần nhiều hơn ý nghĩa đời thường, vì có những người hiền lành, đạo đức, nhưng vẫn gặp nghịch cảnh – điển hình là Thánh Gióp.

Thánh Phaolô nói thật lòng thế này: “Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1 Cr 2:1). Chắc chắn không gì có thể hơn sự thật, chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Sự thật sẽ giải phóng quý vị (Ga 8:32). Vì thế, chúng ta sẽ hóa thành ma quỷ nếu chúng ta không đứng về phía sự thật (x. Ga 8:44).

Thánh Phaolô giải thích: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy” (1 Cr 2:2-3). Có lẽ ai cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy ngại nói về Chúa vì sợ người ta nói mình “thế này, thế nọ” mà… bày đặt. Nỗi sợ có lúc tốt, có lúc không tốt. Hãy cứ thật thà và thẳng thắn như Thánh Phaolô: “Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa” (1 Cr 2:4-5). Rất rõ ràng, chính xác và chí lý! Chắc hẳn Chúa Giêsu biết chúng ta yếu đuối và nhát đảm nên Ngài đã nhiều lần động viên chúng ta: “ĐỪNG SỢ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20).

Sau khi đọc bản Đệ Nhất Tuyên Ngôn (Bát Phúc, Tám Mối Phúc, Hiến Chương Nước Trời, Bài Giảng Trên Núi), Chúa Giêsu nói thêm: “Chính anh em là MUỐI cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5:13). Vâng, Ngài luôn rất thẳng thắn, bởi vì Ngài chính là Sự Thật (Ga 14:6), và Ngài đến thế gian để làm chứng cho Sự Thật (Ga 18:37).

Sự thật liên quan sự sáng. Chúa Giêsu là Sự Sáng của nhân loại (Ga 1:4), là Ánh Sáng thật (Ga 1:9; Ga 8:12; Ga 9:5; Ga 12:46), thế nên Ngài cũng muốn chúng ta phải trở nên ánh sáng. Ngài so sánh rất thực tế và dễ hiểu: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5:14-16).

Một lần khác, Chúa Giêsu cũng nhắc tới muối, Ngài đã phân tích và căn dặn: “Ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối. Muối là cái gì tốt. Nhưng muối mà hết mặn, thì anh em sẽ lấy gì ướp cho mặn lại? Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em, và sống hoà thuận với nhau” (Mc 9:49-50).

Muối rất tốt, đa dụng, cần thiết. Nhưng muối đó phải có độ mặn thì mới đúng là muối và khả dĩ hữu dụng.

Cầu Nguyện:


Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi chúng con thành Muối Mặn và Ánh Sáng theo đúng Tôn Ý Ngài. Xin gìn giữ chúng con duy trì được “độ mặn” cần thiết để sinh ích lợi cho tha nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

HÃY LÀ HẠT MUỐI...!

Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị, em sắp được hòa trong đại dương”. Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình như thế. Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!”.

Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan. Muối To lên bờ, sống trong vuông muối. Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh. Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng kia được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi đóng vào bao sạch đẹp… Lần đầu tiên nó thấy mình bị xúc phạm!

Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối cùng người ta cho nó vào nồi cám heo. Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn này ư? Nó tủi nhục ê chề! Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo hạ tiện. Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được, dù là cái vảy da của nó.

Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy, ném nó ra đường lộ. Người người qua lại đạp lên nó!

Chia Sẻ:

Hạt muối là để hòa tan. Hạt muối phải chịu tan biến chính mình mới thể hiện giá trị đích thực của hạt muối. Muối đã lạt và không còn khả năng hòa tan thì cũng bị quên lãng hay vứt bỏ ta đường cho người qua lại dẫm đạp mà thôi!

Con người không được sống cho chính mình. Con người phải biết dấn thân, hòa nhập với xã hội mới thể hiện vai trò giá trị của mình trong cộng đồng. Nhân loại cũng bỏ rơi những con người lười biếng, vô dụng, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội. Muối đã lạt thì vứt đi. Con người lạt tình người, lạt trách nhiệm sẽ trở nên vô dụng và bị bị lãng quên.

Chúa Giê-su mời gọi người tín hữu phải biết hòa tan trong cuộc đời. Như hạt muối hòa tan trong môi trường để ướp mặn cuộc đời. Như ánh sáng hòa tan trong không gian để xua tan bóng tối. Muối và ánh sáng đều phải chịu tan biến mới sinh ích cho con người. Là người ky-tô hữu cũng phải hòa tan cuộc đời mình trong dòng chảy tình yêu để mang lại sức sống cho con người.

Chính Chúa Giê-su đã chấp nhận hòa tan chính mình trong dòng chảy của cuộc đời. Ngài đã trở nên mọi sự cho mọi người. Ngài đã sống để dâng hiến và phục vụ con người trong yêu thương hết mình như thánh Gioan đã nói: “Ngài đã yêu thì yêu cho đến cùng”. Đỉnh cao của hòa tan là chấp nhận tiêu hao chính mình “như hạt lúa chịu mục nát để sinh nhiều bông trái”.

Năm nay Giáo hội mời gọi chúng ta “Phúc âm hóa” là dịp nhắc lại vai trò của người tín hữu giữa dòng đời. Là người tín hữu phải đem muối Phúc âm thẩm thấu vào trong thế gian. Là người tín hữu phải đem ánh sáng của Phúc âm dẫn dắt con người hôm nay đi trong chân lý. Thế nhưng, ở đâu dó vẫn có những tín hữu thiếu gia vị của tình yêu, thiếu cả gương sáng gây ô uế môi trường và gây gương xấu cho tha nhân. Ở đâu đó vẫn có những nhóm giáo dân thường co cụm chính mình mà ít cởi mở, thân thiện với tha nhân. Đó là lý do mà Giáo hội không thực sự có giá trị trong cộng đồng nhân loại. Làm sao Giáo hội có thể phúc âm hóa môi trường khi mà người tín hữu để muối đã lạt qua cách sống đạo hời hợt, đôi khi còn thiếu gia vị của tình yêu? Làm sao mà Giáo hội có thể Phúc âm hóa khi mà chính người ky-tô hữu vẫn còn làm gương xấu của gian dâm, của cờ bạc, rượu chè . .

Ước gì đời sống của chúng ta luôn là lời ngợi ca và tôn vinh Chúa. Một đời sống thấm nhuần lời Chúa để đem tin mừng thẩm thấu vào trong thế gian. Một đời sống công bình bác ái như những ngọn đèn hải đăng thắp sáng trong bóng đêm của xã hội đầy bất công và hận thù. Một cuộc sống đi vào lòng nhân thế để phủ đầy ánh sáng của Phúc âm và hơi ấm của Tin mừng.

Cầu Nguyện:



Xin Chúa giúp chúng ta luôn hoàn thành đời mình như muối mặn, như ánh sáng hòa tan cho thế gian sức nóng và tràn ngập ánh sáng của Tin mừng. Amen