Translate

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

THỨ BẢY TUẦN IV THƯỜNG NIÊN


Người bảo các ông : “Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” (Mc 6, 31a)

Đức Giêsu đến trần gian để thi hành sứ mạng cứu độ nhân loại. Sứ mạng ấy được Ngài thực hiện bằng việc làm và lời giảng dạy. Ngài cũng thông chia sứ mạng ấy cho các tông đồ, và Giáo Hội hôm nay đang tiếp nối cho đến tận thế. Được quy tụ chung quanh Đức Giêsu, được Ngài huấn luyện rồi sai đi, các tông đồ đầy nhiệt huyết dấn thân trong công việc truyền giáo. Dù gặp nhiều khó khăn thử thách trong bước đầu con đường dấn thân, nhưng các ngài vẫn say mê với sứ vụ, vì có Thầy luôn đồng hành. Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc các Tông Đồ đi rao giảng về hồ hởi báo cáo những thành quả tốt đẹp với Chúa Giêsu, Chúa Giêsu bảo các ông lui vào nơi vắng vẻ để nghỉ ngơi đôi chút. Các tông đồ cũng giống như chúng ta dễ cảm thấy mừng vui khi nhìn thấy kết quả những gì mình đã hy sinh và được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt, dễ làm cho cái tôi tự mãn trỗi dậy, vì thế Chúa dạy cần phải lánh riêng một nơi thanh vắng. Hơn nữa thân xác con người có giới hạn của nó: Khi con người làm việc mệt mỏi, họ cần được nghỉ ngơi dưỡng sức; nếu không họ sẽ dễ dàng bị quá tải, và làm việc sẽ không đạt hiệu năng.  

Thật vậy, đối với Đức Giêsu, nghỉ ngơi mang chiều kích tâm linh chắc hẳn là quan trọng nhất cho đời sống của người môn đệ. Nghỉ ngơi thể xác để tâm hồn giàu mạnh hơn là sức đẩy cho những hoạt động sau này. Vì thế, Ngài muốn các môn đệ “vào nơi thanh vắng để nghỉ ngơi” là vậy. Trong nơi thanh vắng, con người thấy lòng mình thanh thản để gặp gỡ Thiên Chúa, nhìn lại bản thân và hướng về tha nhân. Ngày hôm nay, người ta có rất nhiều phương cách để nghỉ ngơi, giải trí sau thời gian dài hoạt động. Nhưng những cách thức giải trí ấy rất thiếu vắng sự thinh lặng, nên nhiều khi con người lại cảm thấy bị căng thẳng và mệt mỏi hơn nhiều. Vì vậy, cách thức nghỉ ngơi mà Chúa đề nghị với các môn đệ là hữu ích và tuyệt vời nhất. Chúng ta cần lắng nghe lời Chúa dạy bảo, sống theo cách thức Chúa hướng dẫn, thì chắc chắn mọi hoạt động tông đồ của chúng ta sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp.

Ngày hôm nay người ta rất sợ sự thinh lặng, sợ những nơi vắng vẻ và yên tĩnh. Người ta thích đám đông, thích ồn ào náo nhiệt, thích những hoạt động mang nhiều sắc thái hợp thời. Sống trong thời chủ nghĩa duy hoạt động, người ta thường đánh giá người khác theo những công việc mà người đó làm được, chứ không phải như người đó “là”. Thế nên khi sức khỏe suy yếu, năng lực cạn kiệt, thì người ấy bị coi như không còn hiện hữu nữa. Thật đáng buồn cho một xã hội mà con người được đánh giá dựa vào những hoạt động. Bài Tin Mừng hôm nay là lời cảnh tỉnh cho chúng con ngay trong cuộc sống với muôn ngàn hoạt động kín đầy thời gian. Trước hết, Chúa Giêsu cảm thông với nỗi vất vả của các Tông đồ khi làm việc truyền giáo nên cần có thời gian nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe cả về thể xác cũng như tâm hồn. Nghỉ ngơi để lấy lại sức, để nhìn lại những việc đã làm, để sống thân tình với Chúa và với nhau. Đây là nhu cầu chính đáng và rất bổ ích nhằm quân bình cuộc sống. Kế đến, theo Tin Mừng Marcô luôn luôn sau mỗi khi tiếp xúc với dân chúng, Chúa Giêsu rút lui vào yên lặng không chỉ để cầu nguyện hay nghỉ ngơi mà còn để phủ nhận sự phấn khởi của quần chúng cứ muốn lôi Người vào quan niệm đầy trần tục về Ðấng Thiên Sai và vai trò cứu thế của Người. Họ muốn một vị cứu tinh làm thỏa mãn tâm tư tham lam của họ. Chính vì thế mà Chúa Giêsu cũng muốn các Tông Đồ xa lánh sự tung hô của dân chúng cũng như tránh đi sự nhầm tưởng không đúng về sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Lại nữa, Chúa Giêsu muốn các Tông Đồ cần có sự quân bình giữa đời sống cầu nguyện và truyền giáo, giữa chiêm niệm và hoạt động, giữa việc đạo đức kết hiệp với Chúa và công việc mục vụ. Đó cũng là một điều hết sức cần thiết cho các vị lo việc truyền giáo và mục vụ ngày nay. Có những vị “quá dấn thân” cho việc “mục vụ” và “xây dựng” đến nỗi không còn thời giờ để đọc kinh Phụng Vụ, không còn những phút thinh lặng cầu nguyện và dần dần đời sống đạo đức èo uột, nói về Chúa mà không sống với Chúa và cuối cùng chỉ còn công việc mà không có Chúa đồng hành nữa…Quả thế, điều quan trọng nhất chính là hoạt động tông đồ cần được thăng bằng qua đời sống cầu nguyện. Nhờ cầu nguyện, người môn đệ nhận ra được tiếng Chúa, hầu có thể đáp lại mệnh lệnh của Ngài. Vâng, là người môn đệ của Chúa, chúng ta cần hăng say nhiệt tâm trong công việc truyền giáo, nhưng chắc hẳn chúng ta rất cần có những khoảng thời gian yên tĩnh bên lòng Chúa, trước Thánh Thể Chúa, để nghỉ ngơi, để kín múc nguồn sinh lực cho những hoạt động tiếp theo.

********

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết yêu mến sự thinh lặng và nơi thanh vắng, vì ở nơi đó chúng con cảm nghiệm thật sâu xa tình yêu Chúa và thánh ý Ngài. Xin thương giúp chúng con biết khôn ngoan và thận trọng tránh xa  những nơi ồn ào náo động vô ích và những hoạt động không cần thiết dễ làm chúng con xa cách Chúa. Amen.

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

ĐỨC MẸ DÂNG CHÚA GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNH


Biến cố Mẹ Maria và thánh Giuse đem Đức Giêsu vào đền thánh để dâng cho Thiên Chúa được Tin Mừng thánh Luca lồng ghép hai nghi thức thánh tẩy cho Mẹ Maria sau khi sinh và dâng Đức Giêsu (Con đầu lòng) cho Thiên Chúa thành một. Có người cho rằng đây là một cách Luca dùng để ngầm ý làm nổi bật sự kết hợp giữa Đức Giêsu và Mẹ Người trong việc tiến dâng cho Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, Thánh sử Luca muốn diễn tả biến cố này là một sự thánh tẩy đền thờ hơn là Mẹ Maria được thanh tẩy. Thật vậy, cách trích dẫn Cựu Ước ở đây, cho thấy thánh Luca chú ý đến tính thần học hơn là về phương diện lịch sử. Vì từ khi Hòm Bia bị mất, đền thờ đã trở nên trống rỗng và xem như Thiên Chúa không còn hiện diện nữa. Nay Đức Giêsu Cứu Thế đến, đền thờ lại được tràn đầy, Thiên Chúa lại hiện diện, và như thế, đền thờ được tẩy uế. Tuy nhiên, dù giải thích theo nghĩa nào, thì việc cha mẹ Đức Giêsu đem Người vào đến thánh để dâng cho Thiên Chúa, trước hết là để chu toàn lề luật (x. Lc 2, 27).

Đọc lại sách Xuất Hành chương 13, 1-2, cho thấy luật dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa xuất phát từ sau tai ương thứ mười, khi thần sứ Đức Chúa giết các con đầu lòng Ai Cập. Đức Chúa đã phán với ông Môsê: “Hãy thánh hiến cho Ta mọi con so, mọi con đầu lòng trong số con cái Israel, dù là người hay thú vật: nó thuộc về Ta” (Xh 13, 1-2). Như thế, tất cả những con đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa, nghĩa là có quyền phục vụ Lều Thánh. Tuy nhiên, từ khi xảy ra chuyện “con bò vàng” (x. Xh 32, 1-6), đặc quyền dành cho “con đầu lòng” phục vụ Lều Thánh không còn nữa, mà việc phục vụ Lều Thánh được dành cho con cái Lê vi: Như vậy, ban đầu những người được dâng vào phục vụ đền thánh phải là những con trai đầu lòng (x. Xh 13, 1-2), nhưng về sau được thay thế bằng con cái dòng tộc Lêvi (x. Xh 32, 1-6.25-29; Ds 3, 11-12). Đây cũng là ý nghĩa của suy tư thần học về việc Mẹ Maria dâng Chúa Giêsu vào đền thánh hay Mẹ Maria dâng Chúa Giêsu trong đền thánh. Như đã nói ở trên, không có chuyện dâng Chúa Giêsu vào đền thánh nữa, vì Mẹ Maria không dâng Chúa Giêsu vào để Người phục vụ đền thờ, mặt khác, Mẹ Maria trước đó đã không khấn dâng Chúa Giêsu vào như trường hợp của bà Anna khấn dâng Samuel cho Thiên Chúa trước khi Samuel chào đời (x. 1Sm 1, 11), hơn nữa, Đức Giêsu không thuộc dòng Lêvi. Và rõ ràng sau đó Mẹ Maria và thánh Giuse đã đưa Đức Giêsu về lại Nazareth (x. Lc 2, 39- 40). Tuy nhiên, dù những người con đầu lòng không phải phục vụ đền thờ nữa, nhưng vẫn thuộc về Thiên Chúa, nên phải chuộc lại bằng lễ vật (x. Ds 18, 15-16) và Mẹ Maria đã chu toàn điều luật đó. Vì vậy, biến cố dâng Chúa trong đền thánh cho thấy Mẹ Maria vừa chu toàn luật thanh tẩy, luật dâng con đầu lòng vừa chu toàn luật chuộc lại con đầu lòng bằng lễ vật.

Cách kể chuyện của Luca còn cho thấy việc dâng Chúa Giêsu trong đền thánh như là một cuộc gặp gỡ giữa Cựu Ước và Tân Ước (giữa Simêon và Anna đại diện cho Cựu ước với Đức Giêsu là Đấng khai mở Tân Ước). Trong khi Matthêu cố minh chứng Đức Giêsu chính là Môsê mới, thì có vẻ như Luca lại thích áp dụng Đức Giêsu như là vị ngôn sứ Samuel mới. Thực ra Luca thấm nhuần hình ảnh của Samuel từ bài ca của bà mẹ hiếm muộn Anna, cho đến việc Samuel được bà Anna dâng vào đền thờ để phục vụ Thiên Chúa (x. 1Sm 1, 22-28); còn “cha mẹ Đức Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người” (Lc 2, 27). Điều này cho thấy Giuse và Maria tuân giữ lề luật rất kỹ càng, làm cho việc “sống dưới lề luật” của Đức Giêsu càng nổi bật. Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta ba bài học:

- Noi gương Mẹ Maria tuân giữ lề luật:  Mẹ Maria tuân giữ lề luật Thiên Chúa và những qui định tôn giáo rất đầy đủ, ngoài ra, còn chấp hành cả những gì thế quyền qui định nữa. Điều này được chứng minh qua việc Mẹ Maria dù đang thời kỳ thai nghén và sắp đến ngày sinh nở cũng đã cùng với Giuse vượt đường xa về nguyên quán để khai sinh, rồi sau đó dâng lễ thanh tẩy, dâng con đầu lòng và cử hành việc chuộc lại con đầu lòng theo như những gì luật tôn giáo qui định. Đây là một trong những ưu điểm nổi bật của Mẹ Maria, vì hơn ai hết, các ki-tô hữu phải là người gương mẫu trong việc tuân giữ lề luật Thiên Chúa và biết vâng phục Hội Thánh, vâng phục các vị chủ chăn trong Hội Thánh là những người đại diện Chúa Kitô, đồng thời cũng biết tôn trọng thế quyền cách chính đáng nơi mình đang sống.
- Ai sống thánh thiện và khao khát Chúa thì Chúa sẽ cho gặp: Cũng như cụ già Simêon, nữ ngôn sứ Anna ngày đêm ăn chay cầu nguyện, và bà đã được gặp Chúa và chúc tụng Người. Điều này cho thấy, muốn được gặp Chúa và được biến đổi đời sống, chúng ta cần có một đời sống thánh thiện và khao khát thật sự.
- Muốn con cái lớn lên trong ơn nghĩa thánh, cha mẹ cần biết dâng con cho Chúa.: Tin Mừng kể sau sự kiện được cha mẹ dâng mình cho Thiên Chúa, trẻ Giêsu lớn lên đầy khôn ngoan và trong ơn nghĩa Chúa. Điều này mang ý nghĩa việc dâng trẻ Giêsu vừa để chu toàn lề luật, vừa ký thác cuộc đời cho Thiên Chúa hướng dẫn. Cũng vậy, các bậc làm cha làm mẹ hãy biết dâng con mình cho Thiên Chúa (dâng ở đây không có nghĩa là đi tu), nhưng là phải biết ký thác cho Chúa, xin Chúa soi sáng, ban sức mạnh và hướng dẫn con cái mình biết sống đẹp lòng Chúa và có ích cho Giáo Hội cũng như xã hội.

*********

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã trở thành trẻ thơ cho người ta nâng niu và ôm ẵm. Chúa đã cảm nhận tình yêu chia sẻ của con người. Xin cho chúng con biết mở rộng vòng tay đón nhận và tôn trọng mọi người, nhất là các trẻ thơ vô tội. Xin cũng giúp chúng con biết noi gương Mẹ Maria mà cộng tác với Chúa trong việc cứu độ nhân trần. Amen.

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

THỨ NĂM TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. (Mc 6, 12)

Bắt đầu thời kỳ rao giảng, Đức Giêsu kêu gọi Nhóm Mười Hai để các ông ở với Người và được Người sai đi rao giảng. Người mong muốn chia sẻ sứ mạng rao giảng với các tông đồ và để các ông tiếp nối sứ mạng của mình. Các tông đồ không sở hữu gì ngoài sứ điệp của Chúa, bằng một lối sống dung dị các tông đồ cũng không được đòi hỏi gì mà ngược lại phải rất ý thức về sứ mạng của chính mình, phải bằng lòng với những gì mình nhận được, chấp nhận lòng hiếu khách của người ta, các tông đồ cũng được dạy phải bằng lòng với nơi ăn chốn ở chứ không đi hết nơi này sang nơi khác để tìm một lối sống thoải mái hơn: “Bất cứ nơi đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ” (Mc 6, 10-11). Ðó là những đòi hỏi của chính Đức Giêsu đối với những người được sai đi thi hành sứ vụ : ra đi mà không có gì bảo đảm cho cuộc sống của mình, ra đi mà không mảy may dính bén với của cải vật chất, với lòi khen tiếng chê. Được sai đi rao giảng, các tông đồ cũng dấn thân vào một cuộc mạo hiểm, từ bỏ mọi thứ bảo hiểm cho sự an toàn của bản thân. Nhưng ngoài những cái các ông “không mang” thì các ông lại được ban quyền năng của Đức Kitô để rao giảng, trừ quỷ và chữa bệnh. Các môn đệ Chúa phải dám mạo hiểm nhưng là cuộc mạo hiểm kỳ thú, vì có Chúa vẫn đồng hành với họ.

Khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta mang trên mình sứ vụ làm công việc của Chúa, công bố sự thật của Chúa, phân phát ơn cứu rỗi đã được Chúa thực hiện. Đồng thời, khi rao giảng Lời Chúa thì cũng không thể lơ là hay đóng kín trước những việc phục vụ cho công cụ phát triển xã hội, phục vụ lợi ích tốt lành cho anh chị em.  Hơn nữa, loan Tin Mừng cốt yếu là làm chứng cho Chúa Giêsu, mà Chúa Giêsu đó đã sinh ra trong khó nghèo, sống kiếp nghèo và chết trong sự trần trụi trên Thập Giá. Vì thế, nếu đời sống của người rao giảng không thể hiện được tinh thần nghèo sẽ tự nó trở nên phản chứng. Chỉ thị mà nhóm mười hai đón nhận xưa kia cũng vẫn hiệu nghiệm với chúng ta hôm nay. Nhưng trước hết, chúng ta đừng quên điều tối quan trọng là trước khi làm chứng cho Chúa, rao giảng Tin mừng nước Chúa chúng ta cần có thời gian “ở với Chúa” và được Chúa huấn luyện. Chúng ta cần phải có tương quan mật thiết với Chúa trước khi thi hành sứ vụ được trao ban. Khi liên kết với Chúa bằng chính đời sống của mình, công việc của ta được Chúa nâng đỡ và trợ giúp. Trong mỗi Thánh lễ, mỗi giờ chia sẻ Lời Chúa… chúng ta không chỉ giới hạn vào việc nghe Chúa dạy bảo qua những sứ điệp mà ta còn phải nhận ra hoạt động của Chúa nơi mỗi người chúng ta để chính Chúa là niềm vui cho những hoạt động của chúng ta. Ta có thể chia sẻ sứ vụ của Chúa bằng đời sống đơn sơ của mình như Chúa đã chỉ thị cho các tông đồ nhưng mặt khác ta cũng không rao giảng lời nói, tư tưởng của mình cho người khác mà ta phải lệ thuộc vào sứ điệp là Lời của Chúa, sẵn sàng chấp nhận mọi hệ lụy khi dấn thân vào công việc tông đồ, bác ái hay bênh vực cho công lý. Chân lý hệ trọng này cũng đã được chính các môn đệ thể hiện: loan báo không những bằng lời nói, mà còn phải cho thấy nó có giá trị thực sự bằng hành động nữa.

Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta chia sẻ sứ vụ rao giảng với Chúa, Người cũng giúp chúng ta thi hành sứ vụ đó và khi tin vào Người, dấn thân vào sứ vụ của Người chúng ta cũng được thông phần vào quyền năng của Người. Điều đó đúng ngay cả trong thời đại của chúng ta. Có những nhà giảng thuyết có thế giá xuất thân không chỉ từ giáo sĩ mà còn từ tu sĩ và giáo dân. Ngày nay, qua Giáo hội, Chúa Giêsu tha thứ cho con người nơi bí tích thống hối và chữa lành bệnh tật nhờ lời cầu nguyện của các môn đệ của Người. Chúa cũng sai chúng ta đi vào lòng thế giới, để “rao giảng sự sám hối” (Mc.6,12). Bởi chỉ có sám hối nhìn nhận mình tội lỗi thì mới được hưởng ơn tha thứ; khiêm tốn nhìn nhận mình bất toàn mới được đổ đầy ân sủng. Sám hối là điều kiện đầu tiên phải có để đón nhận Tin Mừng. Sám hối để nhận ra mình sai mà quay về, sám hối để rũ bỏ tất cả để được Chúa ngự vào… Đó là một đòi hỏi khó khăn cho chính bản thân chúng ta và cho những người chúng ta gặp gỡ vì chẳng mấy ai thích nghe. Ðó cũng là thách thức của người tông đồ là phải can đảm nói lên những điều phải nói : “Nói mà không giảm nhẹ những đòi hỏi của Tin mừng. Nói mà không lợi dụng Tin mừng để mưu cầu cá nhân. Nói mà không trích dẫn Tin mừng để khoe khoang kiến thức. Nói mà không bóp méo Tin mừng để vuốt ve quần chúng. Dù sao Tin mừng vẫn phải được loan báo”. Hôm nay, Chúa cũng trao cho chúng ta những quyền năng như hành trang để lên đường. Ðó là quyền rao giảng Tin mừng, quyền trừ quỷ và quyền chữa bệnh. Chúng ta có thể chia sẻ Tin mừng với niềm hân hoan của người tìm được viên ngọc quí. Chúng ta có thể nói về Chúa như nói về một người bạn thân. Chúng ta có thể xua trừ quỷ bằng cách đẩy lui những thói hư tật xấu. Chúng ta có thể chữa bệnh bằng cách lau khô những giọt lệ của bao người quanh ta.

********

Lạy Chúa, mọi người chúng con hôm nay cũng được mời gọi sống sứ vụ rao giảng Tin Mừng trong ơn gọi Kitô hữu. Xin cho chúng con hăng say làm chứng cho Chúa bằng đời sống thanh bần đơn sơ phó thác, xây dựng sự hợp nhất bình an và làm cho Nước Chúa được lớn mạnh ngay trên quê hương trần thế. Amen.

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

THỨ TƯ TUẦN IV THƯỜNG NIÊN


Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.”(Mc 6, 4)

Sự quen thuộc dễ làm cho người ta nhàm chán, dễ khiến người khác xem thường và có khi còn làm cho người ta tỏ thái độ không thiện cảm, thiếu tôn trọng. Tin mừng Thánh Marcô hôm nay tường thuật Chúa Giêsu trở về với quê hương với tư cách là một thầy Rabi Do Thái, như vị giáo sư, thầy dạy. Ngày Sabát, theo tập tục, Ngài đến Hội trường Do Thái để giảng dạy. Ngài đã làm cho họ ngạc nhiên khi đến ngày Sabát Ngài vào hội đường và giảng dạy với những lời khôn ngoan. Dân làng vốn đã quá quen thuộc với nghề nghiệp của Ngài nên hỏi nhau: “Ông ta không phải là bác thợ”. Họ không những biết rõ lý lịch của Ngài: “Con bà Maria” mà còn thuộc lòng các mối quan hệ họ hàng thân thích của Ngài: “Anh em của các ông: Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm của chúng ta sao?”. Vì vậy, khi nghe những lời Ngài giảng dạy trong hội đường và chứng kiến những phép lạ Ngài làm họ không thể tin vào Ngài. Họ lấy làm ngạc nhiên về chính con người của Ngài: một người đầy quyền năng. Họ nghi ngờ chính Ngài và họ tự hỏi: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế nghĩa là gì?” (Mc 6, 2b). Sự âm thầm và khiêm tốn của Ngài suốt ba mươi năm sống cùng, sống với dân làng Nazareth khiến họ không thể loại bỏ những định kiến về Ngài. Quá khứ và hiện tại đan xen lẫn nhau khiến họ không nhận ra Ngài là Đấng Mêsia và họ cũng không thể tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa.Những người ở quê hương nhìn Chúa Giêsu với cái nhìn đầy thành kiến, vì họ biết quá rõ nguồn gốc nhân loại của Người, là con một bác thợ mộc Giuse nghèo nàn ở Nazareth, học hành chỉ ở trường làng, nhất là trong thâm tâm họ, Đấng “Kitô” phải là con cái trong hoàng tộc, sống nơi thành phố hoa lệ và được học hành nơi các bậc thầy danh giá… Chính vì thế, khi thấy Chúa Giêsu nổi tiếng giảng dạy thì bắt đầu họ gièm pha chê bai.

Vấn đề của người Do thái xưa dường như cũng là vấn đề của con người hôm nay, và có thể của chính chúng ta nữa, khi đối diện với ngôi vị của Đức Giê-su. Thật vậy, ngày nay, qua các phương pháp nghiên cứu sử học, đúng nghĩa hay giả mạo, người ta tự cho mình biết nhiều hơn và khách quan hơn về con người Đức Giêsu Nazareth, về tôn giáo của dân tộc Ngài, về bối cảnh văn hóa, xã hội và chính trị thời đại của Ngài. Người ta thán phục về nhân cách độc nhất vô nhị của Ngài. Có người cho Ngài là một nhà cải cách về tôn giáo, người khác về luân lý, người khác về xã hội, người khác cho Ngài là người duy lý, duy nhân bản,... Tuy nhiên, người ta không thể chấp nhận niềm tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa, là “Bánh từ trời xuống”. Khó khăn trong việc tin Đức Giê-su Nazareth, con của ông Giuse và bà Maria, là Con Thiên Chúa, là “Bánh từ trời xuống”, cũng chính là khó khăn khi chúng ta tin nơi Thiên Chúa, khởi từ thiên nhiên, lịch sử và những biến cố mà chúng ta đã trải qua.

Điều đó cho thấy, giữa “biết” và “yêu” đôi khi chẳng song hành với nhau, biết là một chuyện, yêu lại là chuyện khác. Tôi biết anh A chị B, nhưng chắc gì tôi đã yêu mến họ, tôi tin có ông này bà nọ hiện hữu, nhưng chắc gì tôi yêu thích họ và tìm đến gặp họ? Cũng vậy, người quê hương Na-da-rét biết rất rõ về nguồn gốc Chúa Giêsu và họ rất thông thạo Thánh Kinh nói về Người, nhưng họ không tin và không yêu mến…Ma quỷ tin có Chúa Giêsu hiện diện, nó biết rất đúng về Chúa Giêsu, thậm chí còn tuyên xưng Ngài giữa đám đông, nhưng liệu nó có yêu Ngài không? Thưa không. Chúng ta cũng cần tự vấn về mình, chúng ta vẫn cho rằng mình tin có Chúa, chúng ta tin Chúa Giêsu ngự trong Bí Tích Thánh Thể… nhưng liệu chúng ta có yêu mến Ngài thật không? Tin là một chuyện, nhưng có yêu mến hay không lại là một chuyện khác. Chúng ta tự hào là biết Thiên Chúa, qua học hỏi, qua nghiên cứu, qua những khảo luận thần học, chúng ta thậm chí tự hào về kiến thức đầy mình về Thiên Chúa, nhưng có bao giờ chúng ta cầu nguyện tâm sự với Ngài không? Có đến viếng Thánh Thể không? Thậm chí khi tự cho mình hiểu biết đã tạo nên sự thành kiến, và chính thành kiến đã ngăn cản con người tiếp cận chân lý, rồi sinh ra sự ghanh tỵ và gièm pha những ai thành công. Đây cũng là một thực trạng nơi mỗi quê hương chúng ta, chúng ta thường khinh miệt, yên trí và gièm pha những người con nơi quê hương chúng ta thành công trở về, vì trong chúng ta luôn bị cái tính thành kiến (yên trí) cha này, thầy nọ, soeur kia con ông này bà nọ không ra gì… Ngược lại, một vị nào đó từ nơi khác đến, dù xét về tài năng, về đạo đức, về giảng dạy đôi khi còn thua kém xa một người trong quê hương, thì chúng ta lại rất hồ hởi tung hô vì chúng ta không yên trí – thành kiến gì về họ. Nhưng đó là một thực trạng mà Chúa Giêsu từng trải qua, và những người môn đệ của Người cũng thế, hãy biết vui vẻ chấp nhận. Là cha, là thầy, là dì, là Giáo Lý Viên hay các cử nhân đại học... chúng ta hãy vui vẻ chấp nhận và luyện tập đức khiêm tốn… Lại nữa, “gần chùa kêu bụt bằng anh”, khi người Nazareth quá gần gũi nên đã sinh ra lơ là và coi thường. Chúng ta cũng thế, thích đi hành hương nơi này, cầu xin nơi nọ, nhưng ngay nơi giáo xứ mình, chúng ta lại bê trễ việc đến gặp Chúa trong các Thánh Lễ và Giờ Kinh…Qua bài Tin Mừng này Chúa mời gọi con – người mang danh Kitô hữu – cần xét lại hành vi thiếu đức tin của mình ít nhiều trong tương quan với Chúa và với anh em; những thái độ coi thường Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày, nhất là những định kiến hẹp hòi về anh chị em xung quanh cứ đóng kín con tim của con làm cho con không được Chúa chữa lành. 

********
Lạy Chúa Giêsu, trò không thể hơn thầy, nhưng nếu được bằng thầy thì đã là có phúc. Xin cho chúng con, nếu có phải nếm trải những sự thành kiến, kỳ thị và ghen ghét mà Chúa đã từng trải qua, thì cũng biết vui vẻ khiêm tốn đón nhận, để trong tất cả mọi sự Chúa được vinh danh. Xin Chúa cho con biết dẹp bỏ những thành kiến hẹp hòi để mở lòng ra, và thấy được những giá trị tốt đẹp của anh chị em con. Amen.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

THỨ BA TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.” (Mc 5, 34)

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu đến nhà ông Giairô là trưởng hội đường để chữa cho con gái của ông được sống lại. Câu chuyện bị gián đoạn bởi trên đường đi xảy ra việc xuất hiện một phụ nữ bị bệnh loạn huyết lẻn vào đám đông vây quanh Chúa Giêsu để chạm và Người. Xuyên suốt tường thuật nổi bật lên chứng từ niềm tin của hai nhân vật và Chúa Giêsu đã ra tay thực hiện điều họ ao ước bởi niềm tin của họ. Thật vậy, để củng cố lòng tin cho mọi người, Đức Giêsu đã thực hiện hai phép lạ cùng một lúc. Cả hai phép lạ đều diễn tả sức mạnh của lòng tin. Giữa lúc thập tử nhất sinh,giữa đau khổ và cái chết,con người như rơi vào bế tắc, chỉ có lòng tin như ánh sáng hy vọng giúp họ vượt qua tất cả và được sống. Trong hai phép lạ cùng có một sự “đụng chạm”. Người đàn bà đưa tay chạm đến áo Đức Giêsu và được khỏi bệnh, còn Đức Giêsu tiến đến cầm lấy tay đứa trẻ và em đã được cứu sống. Sự “đụng chạm” của người đàn bà biểu hiện lòng tin mãnh liệt, còn Đức Giêsu “đụng chạm” là do lòng thương cảm sâu sắc. Hai “đụng chạm” gặp nhau tạo nên một điều kỳ diệu đó là phép lạ.

Hành động của người đàn bà cho chúng ta kinh nghiệm về sự yếu đuối của thân phận con người. Sau mười hai năm dài mang trong mình chứng bệnh phụ nữ, bà đã vái tứ phương mà vẫn tiền mất tật mang, hơn nữa bà còn phải chịu nhiều thiệt thòi bởi quan niệm hẹp hòi rẻ rúng đối với phụ nữ trong xã hội Do Thái.Đặc biệt đối với người phụ nữ bị nhơ uế không được giao tiếp và đụng chạm đến người khác. Nhờ lòng tin, bà đã can đảm vượt qua những định kiến về văn hóa luật lệ để tiến tới sờ vào áo Chúa Giêsu và bà đã được khỏi bệnh. Như vậy, đức tin đôi khi cần một sự can đảm và liều lĩnh, vượt trên mọi mặc cảm và cả sự nguy hiểm để được chạm vào Chúa Giêsu. Mọi người chúng ta muốn đến được với Chúa rất cần một sự can đảm và liều lĩnh, nhất là khi chúng ta đang sống trong sự bi đát của tội lỗi, sống tách biệt với cộng đoàn đã lâu năm, bị mọi ngăn trở xã hội và cả tôn giáo tạo nên ngăn cản chúng ta đến với Chúa. Hãy can đảm đứng lên, mau chạy đến bí tích hoà giải để được Chúa chữa lành thương tích linh hồn, để hoà nhập với cộng đồng. Hãy chạy đến bí tích Thánh Thể để tâm hồn được chạm đến Chúa Giêsu và sinh lực từ Thánh Thể sẽ phát ra làm cho chúng ta nên mạnh mẽ. 

Còn ông Giaia dù là trưởng hội đường có địa vị trong xã hội nhưng ông đã đến sụp lạy xin chữa lành cho con gái ở nhà, Chúa Giêsu lại lên đường đi với ông về nhà. Quãng đường không biết bao xa, nhưng vì đám đông đi theo chen lấn, và xuất hiện một bà bị loạn huyết chen vào ‘phá đám’ nên chưa đến nơi thì có người đến báo là con ông Giairô đã chết. Có lẽ lúc này đức tin của ông trưởng hội đường bị đặt trước một thử thách rất lớn bởi lẽ ra Chúa Giêsu đã có thể đến sớm hơn để “bệnh nhân không chết nếu bác sĩ Giêsu đến kịp”. Thế nhưng Chúa Giêsu đã vội trấn an: “Ông đừng sợ, cứ vững tin!”. Và vì vững tin mà con gái ông Giairô đã được Chúa cho hồi sinh. Cũng vậy, hành trình đức tin của mọi Kitô hữu chúng ta là một chặng đường dài, đôi khi còn bị gián đoạn với bao yếu tố ngoại cảnh mà chúng ta không lường trước được, thậm chí có lúc tưởng chừng như tuyệt vọng. Nhưng nếu chúng ta vững chí như ông Giairô thì sẽ được cứu độ. Quả thế, lòng tin đã phá tan mọi khoảng cách, đã thôi thúc dẫn dắt ông đến với lòng thương xót của Thiên Chúa và con gái ông đã được cứu chữa. Như vậy điều kiện để phép lạ xảy ra đó là lòng tin cùng với lời cầu xin khiêm tốn.

Trong đời sống thiêng liêng, có những lúc chúng ta cảm thấy như đang bước đi giữa đêm tối mịt mù, đang bị nhấn chìm bởi bao khó khăn chồng chất. Đau khổ và cái chết luôn là gánh đè nặng trên thân phận con người khiến chúng ta dễ dàng chán nản thất vọng. Đức tin chi phối mọi hành động của chúng ta. “Đức tin làm cho chúng ta thấy rằng: ngoài việc làm đẹp lòng Chúa thì tất cả chỉ là hư không; đức tin làm cho chúng ta thấy sự yếu đuối của ta trước vẻ cao cả của Thiên Chúa. Đức tin giúp ta dám làm tất cả những gì đẹp lòng Chúa mà không do dự, không hổ thẹn, không sợ hãi và không chùn bước” (Cha Charles de Foucauld). Khi đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa chúng ta có đủ sức mạnh thắng vượt con người yếu đuối của mình mà vươn lên đến sự hoàn thiện.

Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa dạy chúng ta luôn vững tin vào Chúa dù gặp phải bao khó khăn thử thách. Đức tin được rạng ngời nhờ sự thanh luyện gian nan và trường kỳ. Đức tin đòi hỏi một sự can đảm liều lĩnh và một sự kiên nhẫn vững tâm, để nhờ đó chúng ta mới đạt đến chân lý cuối cùng là Ơn Cứu Độ.

*********

Lạy Chúa, xin cho chúng con can đảm bước theo Chúa giữa những thử thách đau thương của cuộc đời. Xin cũng cho chúng con biết năng chạy đến với bí tích hoà giải để được Chúa chữa lành bệnh tật thiêng liêng trong tâm hồn chúng con. Amen

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

THỨ HAI TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết những điều Thiên Chúa đã làm cho anh và đã thương anh như thế nào. (Mc 5, 19)

Thế gian, ma quỷ và xác thịt là ba kẻ thù lớn nhất ngăn cản người Ki-tô hữu chúng ta trên con đường tiến lên hoàn trọn như Cha của chúng ta là Đấng hoàn trọn. Bộ ba kẻ thù này luôn rảo quanh, rình rập và tìm mọi cơ hội để kéo chúng ta xa khỏi tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng bất chấp, không vị nể bất cứ ai, dù người đó là thánh thiện, dù người đó đạo đức, dù người đó là bậc tu hành hay dù người đó có lý trí vững vàng... chúng cũng không buông tha. Bộ ba kẻ thù này như ma lực trực chờ ta sơ hở kéo ta sa vào đường tội lỗi. Vậy làm thế nào để người Ki-tô hữu có thể tự giải thoát mình khỏi những sự kìm kẹp này? Không gì khác hơn là tin vào sức mạnh, quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa. Đồng thời chúng ta khiêm nhường thống hối, trung thành với lời cầu nguyện và năng lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa.

Phụng vụ Lời Chúa ngày hôm nay, thánh Mác-cô cho chúng ta thấy sức mạnh, quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa đã chiến thắng trên ma quỷ và giải thoát con người khỏi sự giam hãm của chúng. Một chàng thanh niên bao năm bị quỷ thần điều khiển, hành hạ. Mang thân xác, hình hài con người nhưng anh bị dân làng, bà con lối xóm xa lánh, trốn chạy chỉ vì anh là quỷ, là ma với một lối sống sinh hoạt khác người như sống trên núi đồi, nơi mồ mả, miệng la hét, tự đập đầu... và không gông cùm, xích xiềng nào có thể giam hãm anh ta lại (xc Mc 5, 3-6). Nhưng may mắn và phúc lành cho anh, hôm nay Đức Giê-su tình thương chính là Người đã giải thoát anh khỏi ách thống trị của ma quỷ và cho anh được tự do hòa nhập lại với cuộc sống dân làng. Thánh Marcô còn cho thấy uy quyền của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu khiến tất cả ma quỷ phải sợ hãi. Nếu như trước đây, thế giới và con người dường như phải sống dưới bóng tối và sự kìm hãm của ma quỷ, thì nay với sự xuất hiện của Chúa Giêsu, bóng tối đã bị đẩy lui và ma quỷ phải khiếp sợ bỏ chạy dù nó có cả một đạo binh. Bằng một mệnh lệnh : Thần ô uế kia, hãy xuất khỏi người này (x. Mc 5, 8) chúng đã sợ hãi tuân theo. Cả đạo binh quỷ xin được nhập vào đàn heo, theo người Do Thái, là những con vật kinh tởm, bẩn thỉu và được Chúa Giêsu đồng ý. Cả đàn heo lao xuống vực chết hết. Điều đó có nghĩa là với thời đại của Chúa Giêsu, một thời mới, thời của giải thoát và tự do được mở ra, con người không còn sợ hãi hay bị kiềm tỏa bởi ma quỷ nữa, tử thần và ma quỷ sẽ phải trở về với nơi của nó, và quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện.

Trước phép lạ và những sự việc như thế đã có hai phản ứng khác nhau. Những người trong thành khi nghe biết những phép lạ thì kéo nhau ra xem. Họ thấy Chúa Giêsu và kẻ trước đây bị quỷ ám đang ngồi đó, nay đã khỏe mạnh bình thường. Họ cũng nghe kể lại những việc đã xảy ra. Tuy nhiên, những người này dường như không tin, họ không muốn đón nhận Chúa Giêsu và quyền năng của Ngài. Trái lại, họ nài xin Chúa đi khỏi vùng đất của họ. Chi tiết này cho thấy một sự thật phũ phàng : Trong cuộc sống, nhiều người dù đã nhìn thấy những việc Chúa làm cho mình hoặc cho anh em, nhưng họ vẫn cố tình từ chối tin Chúa Giêsu vì sợ Ngài làm phiền mình. Những người Gherasa đã muốn chọn sống trong bóng tối thay vì sự sáng, chọn sống trong nô lệ thay vì được tự do. Vì thế, họ đã  xin Chúa ra khỏi vùng đất của họ. Trái lại, người bị quỷ ám đã có một thái độ tích cực hơn, anh nài xin được ở với Chúa Giêsu, tức là anh xin được từ nay thuộc về Chúa Giêsu chứ không còn thuộc về ma quỷ nữa, từ nay anh thuộc về ánh sáng chứ không còn thuộc về bóng tối nữa. Chúa Giêsu đã ghi nhận thiện chí của anh, nhưng Chúa muốn anh bày tỏ lòng biết ơn Chúa bằng một cách khác và ở với Chúa bằng một hình thức khác. Chúa nói với anh : Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết những điều Thiên Chúa đã làm cho anh và đã thương anh. (x. Mc 5, 19) Nói cho mọi người về những điều Thiên Chúa đã làm và đã thương anh, đó là cách bày tỏ lòng biết ơn mà Chúa Giêsu muốn nơi chàng thanh niên này. Chúa muốn anh cảm nhận về tình yêu của Thiên Chúa như thế nào thì nói cho người khác như vậy. Nói cho mọi người về những gì Chúa đã làm là nói về quyền năng của Thiên Chúa mà chính anh đã chứng kiến, đồng thời chia sẻ cho mọi người cảm nhận về tình yêu mà Thiên Chúa đã thương yêu. Chúa không yêu cầu anh phải làm những việc lớn lao để bày tỏ lòng biết ơn, nhưng là về nhà gặp gỡ trước hết là những người thân trong gia đình để nói với họ về Thiên Chúa yêu thương mình.

Điều Chúa nói với người bị quỷ ám cũng là điều Chúa muốn chúng ta hôm nay. Chúng ta tin vào một Thiên Chúa quyền năng và cũng được chứng kiến quyền năng Thiên Chúa vẫn đang thực hiện trong cuộc đời mình, nhưng chúng ta nhiều khi ngại ngần không dám nói cho mọi người về niềm tin của mình. Thật vậy, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương nhưng chúng ta ngại ngần  nói về tình yêu của Thiên Chúa cho người chung quanh. Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta phải chịu đau khổ bởi ma quỷ và tội lỗi. Ngài đã hy sinh mạng sống để cứu chuộc chúng ta và còn không ngừng ban ơn trợ giúp để chúng ta chiến thắng ma quỷ và tội lỗi, cho chúng ta được sống trong sự tự do của con cái Chúa. Xin cho mỗi chúng ta luôn tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa quyền năng và là Đấng bảo vệ, yêu thương từng người chúng ta.

********

Lạy Chúa! Xin cho mỗi người chúng con cũng biết thể hiện lòng biết ơn Chúa bằng cách nói cho nhiều người biết về những gì Chúa đã làm và đã yêu thương mình. Amen.

Thứ Bảy, 27 tháng 1, 2018

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN- B


Mọi người đều sững sờ đến nỗi họ bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì? Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh! (Mc 1, 27)

Chúa Giê su đi vào trần gian đã là một biến cố gây sửng sốt cho người đương thời. Ngài là người thợ mộc vô danh, nhưng lại có một cách nói năng đầy quyền uy như chưa từng có ai nói được như thế. Ngài hoàn thành những điều mà chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng thực hiện, thế nhưng chỉ có những kẻ bé mọn và nghèo hèn mới có thể đến gần Ngài. Họ mạnh dạn đi theo Ngài, và trở nên gương mẫu cho chúng ta. Bài tin mừng chúa nhật hôm nay đưa chúng ta về đầu đời sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Ngài đến kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên nơi bờ  hồ Tibêríat, rồi cùng với họ, Ngài đến Caphácnaum để công bố Tin Mừng. Thành phố ấy được coi như là một nơi nhiều tai tiếng, nên việc Ngài bắt đầu sứ vụ cứu thế từ nơi ấy cho thấy rằng Ngài đến trần gian là để tìm và cứu vớt những người đã hư mất.

Bài tin mừng hôm nay không kể cho chúng ta nghe những gì  Chúa Giêsu đã nói, nhưng nhấn mạnh sự kiện là Ngài nói một cách đầy uy quyền. Không những lời ấy khiến mọi người phải ngạc nhiên nhưng nó còn giải thoát một người bị ma quỉ ám. Do vậy, đó là một lời làm cho sống, thật vậy, Chúa Giê-su đến để nối kết tình nhân loại. Ngài không tìm quyền bính và danh vọng. Ngài không chạy theo những toan tính vụ lợi cho bản thân. Ngài đển để phục vụ và hiến dâng mạng sống cho người mình yêu được sống và sống dồi dào. Chính đời sống khiêm nhu xoá bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài đã sống một cuộc đời phục vụ tha nhân một cách không mệt mỏi. Ngài đã phục vụ mọi người bất luận sang hèn, bất luận già trẻ. Ngài đã từng quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Ngài còn rửa chân cho cả Giu-đa kẻ sẽ bán ngài với giá 30 đồng bạc. Ngài đã sống một cuộc đời nghèo khó đến độ “sinh vô gia cư – chết vô địa táng”. Vâng, Chúa Giê-su, Ngài đã thi hành quyền bính của mình là đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Đối tượng được Ngài phục vụ là các bệnh nhân, là những người nam, người nữ đang bị thần ô uế thống trị, là những con người nghèo khổ, bất hạnh đang bị bỏ rơi bởi đời sống thiếu vắng tình người của đồng loại. Tình thương đó đã được thể hiện trên  người bệnh nhân bị thần ô uế thâm nhập mà đoạn tin mừng thánh Marco hôm nay tường thuật lại. Ma quỷ cũng nhìn nhận quyền bính của Ngài nên đã thốt lên: Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Người đồng hương cũng nhìn nhận Ngài có đầy uy quyền trên môi miệng và nhân cách của Ngài. Họ đã khâm phục ngài vì giáo lý thì mới mẻ, và người dạy lại có uy quyền”. Người Ki-tô hữu cũng được tham dự vào vương quyền của Chúa Giê-su qua bí tích Rửa tội. Người Ki-tô hữu cũng được mời gọi dùng tình yêu để hoán cải lòng người, để hàn gắn những hố sâu ngăn cách của giàu nghèo, của địa vị sang hèn. Dùng tình yêu để phục vụ anh em, để dấn thân quên mình vì hạnh phúc của tha nhân. Sự hiện diện của người Ki-tô hữu phải là những ngọn nến sáng chịu hao mòn để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho cuộc đời. Người Ki-tô hữu phải là những hạt lúa chịu nghiền nát để dâng hiến cho đời những hương thơm của phục vụ, của bác ái và vị tha. Người Ki-tô hữu được mời gọi theo gương Thầy Giê-su biết dùng quyền để phục vụ, biết dùng tình yêu để hàn gắn những thương đau của chia rẽ và hận thù, biết lấy đức ái để sống vì lợi ích của tha nhân.

TÓM LẠI: Tin mừng của Thiên Chúa được Chúa Giêsu công bố chính là sự hiện diện của Ngài ở giữa chúng ta. Sự hiện diện ấy hãy còn kín nhiệm nhưng tiếp tục dạy dỗ và chữa lành khỏi mọi nguy khốn. Chúa Giêsu đã không gặp người bị quỉ ám trên đường hay nơi công trường, nhưng trong hội đường, ở giữa cộng đoàn họp nhau cầu nguyện. Ngay trong chính các cộng đoàn của chúng ta, có thể vẫn có những đồng lỏa với sự xấu. Cả chúng ta cũng có thể là nô lệ cho các đam mê của mình, tiền bạc và nhiều điều khác nữa. Thế mà chỉ cần một lời nói là có thể giải thoát chúng ta, nhưng với điều kiện là không đồng lỏa với sự dữ trong chúng ta. Rất thường chúng ta để mình bị lôi cuốn theo thế giới tuyên truyền bằng những lời vô bổ, và ngăn cản chúng ta tiếp nhận Lời giải thoát trong thinh lặng. Vậy chúng ta hãy để cho Lời ấy thấm nhập và  tra vấn chúng ta, để biến chúng ta thành những con người mới, những con người tự do. Như thế lời của chúng ta cũng sẽ có thể là lời giải thoát. Lời chúng ta nói, cách hành động của chúng ta sẽ mang lại niềm tin; nó sẽ giúp chúng ta muốn đứng lên, và hành động như những tiên tri cho con người thời nay. Qua bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giê su đến gặp chúng ta đang quy tụ trong danh của Ngài. Trước mặt Ngài, chúng ta là một dân tội lỗi, nhưng được Ngài giải thoát và cứu chữa, để làm nảy sinh một dân tộc mới, một thế giới mới.

*********

Nguyện xin Chúa Giê-su là Đấng đến để phục vụ, ban cho chúng ta tinh thần xả kỷ hy sinh, biết sống cho tha nhân và vì tha nhân hơn là vun quén cho bản thân. Nguyện xin Chúa là Đấng đến để chữa lành tâm hồn và thể xác con người, xin cũng chữa lành tâm hồn chúng ta khỏi những ràng buộc của tội lỗi, của đam mê nhục dục để biết sống cao đẹp giữa mọi người. Amen