Translate

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT


Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ. (Mc 12, 33)

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc một tiến sĩ luật của Do Thái đến hỏi Chúa Giêsu về điều răn quan trọng nhất. Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp về giới răn nào trong thập điều, nhưng đưa ra hai điều gồm tóm tất cả mọi lề luật. Đó là mến Chúa và yêu người. Chúa Giêsu không chỉ gồm tóm thập điều thành hai điều căn bản mà còn nâng giới luật yêu thương lên tầm quan trọng ngang hàng với việc kính Chúa. Tóm lại: Mến Chúa và yêu người là hai tương quan của một nhân vị, vừa mang chiều kích tôn giáo vừa mang chiều kích xã hội. Con người sống tương quan hàng dọc với Thiên Chúa và tương quan hàng ngang với tha nhân. Kitô hữu sống mầu nhiệm đức ái bao gồm hai chiều kích này không thể tách rời nhau: Không thể nói mến Chúa mà lại không yêu người, chính thánh Gioan Tông Đồ cũng đã khẳng định điều đó.

Thế nhưng đó mới chỉ là yêu tha nhân bằng mình, mà chúng ta thực hành được đã là chu toàn lề luật rồi. Nhưng càng tốt hơn khi chúng ta dám yêu tha nhân hơn cả chính mình, mới thực sự nên giống Chúa Giêsu, Đấng đã dám thí mạng mình vì yêu, Đấng đã chịu đói khát cho chúng ta được giàu sang. Đó là mức độ cao nhất trong tình yêu, là vượt lên trên mọi so đo tính toán, chứ không chiếm hữu hay có qua có lại theo như cách phân tích của người Hy Lạp

********

Lạy Chúa, xin cho con luôn thấy Chúa hiện diện nơi mọi người chúng con gặp gỡ, để khi thực thi đức bác ái yêu thương với đồng loại, chúng con biết rằng, chúng con đang làm vì lòng yêu mến Chúa và có sức cứu độ các linh hồn. Amen.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

HÃY SỐNG KẾT HIỆP VỚI CHÚA


Ai không đi với Tôi là chống lại Tôi và ai không cùng Tôi thu góp là phân tán.(Lc 11,23)

Nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Ai Cập hay nơi các tộc ít người, người ta biết cách bùa chú để yểm hại người khác, để trừ được bùa yểm cần phải có một thầy pháp cao tay hơn kẻ yểm bùa. Có lẽ cũng vì ảnh hưởng quan niệm này và vì sự ghen ghét mà một số người Do Thái đã độc miệng nói Chúa Giêsu dùng quyền của quỷ tướng để bắt nạt quỷ con. Thế nhưng Chúa Giêsu lại nhân cơ hội này để dạy chúng ta bài học về sự đoàn kết, hay nói chính xác hơn là hiệp nhất. Thái độ không muốn trên đây thể hiện qua việc chối từ đến cùng sự thật mà con người đã thấy, đã biết. Trong khuôn khổ Tin Mừng hôm nay, sự thật ấy chính là Chúa Giêsu có quyền trên ma quỷ, có quyền tha và hằng sẵn lòng tha thứ mọi tội lỗi của con người, nếu con người thành tâm sám hối trở về. Một mặt, điều này không mới lạ, cũng chẳng khó khăn để các Kitô hữu tiếp nhận như một tín điều ; nhưng thực tế đời sống lại cho thấy, đây thật sự là một thách đố mà không phải bất cứ ai đã chịu phép rửa đều có thể vượt qua.

Quả vậy, giữa vô vàn khó khăn, rắc rối, hãi sợ, lo toan giữa dòng đời, nhiều người trong tôi, bạn và anh chị đã không thể vững tin khi Chúa vẫn im lặng, đã vội tìm giải quyết những rắc rối, vội tìm con đường giải thoát khỏi vòng kiềm tỏa của quỷ ma bằng những phương cách đi ngược lại niềm tin Kitô giáo, đi ngược lại mặc khải của Chúa và giáo huấn của giáo hội. Thậm chí, nhiều người trong chúng ta còn rơi vào tình trạng ngoan cố đáng thương khi để mình vấp phạm bởi thiếu sự hiểu biết cần thiết về cơ chế trong giáo hội hoặc bởi thiếu khả năng phán đoán trưởng thành về gương sống chưa lành mạnh của một bộ phận linh mục, tu sĩ, hoặc tông đồ giáo dân. Thành ra, để thêm chút tro của lòng sám hối, để thêm chút tình của người con nhận ra mình đã làm phiền lòng cha mẹ quá nhiều, để chứng tỏ sự cương quyết trong việc dứt khoát với tội lỗi, bỏ đàng quanh co mà trở về với Chúa, với Lòng Trời, thiết nghĩ ta cần mở lòng để cho Lời Chúa soi dẫn, chất vấn và mời gọi. Biết đâu ta cũng đang ngoan cố không nhìn nhận những phép lạ lớn nhỏ Chúa hằng thực hiện trong đời ta, biết đâu ta cũng đang chai lì trong những toan tính xấu xa, ...? Chúa thấy rõ lòng ta, Chúa biết rõ những toan tính của ta. Chúa biết ta lỗi tội, Chúa biết ta yếu đuối, Chúa biết ta giả dối,… nhưng Người vẫn không ngừng lên tiếng gọi mời và đón đợi. Lòng Trời là thế, Tình Cha là thế.

Mùa chay đã đi qua nửa chặng đường, ước gì mỗi chúng ta thêm xác tín vào lòng xót thương và sự thông biết vô lường của Chúa, để ta thoát khỏi vết xe đổ của tiền nhân, sớm tìm được nẻo về, sớm xoa dịu Lòng Trời vốn thổn thức xót đau quá nhiều vì ta.

********

Lạy Chúa Giêsu yêu mến, tạ ơn Chúa đã cho con hiểu thêm lòng từ ái bao dung của Chúa. Tạ ơn Chúa đã thôi thúc con trở về. Con nay trở về với Chúa, con muốn vứt lại sau lưng tội ngoan cố và tính biện hộ trơ trẽn của con. Lỗi tại con, lỗi tại con mọi đàng, xin thứ tha và tuôn đổ ân phúc của Chúa để tâm hồn rách nát hôi thối của con được chữa lành. Amen.

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

KIỆN TOÀN LỀ LUẬT


Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các Ngôn Sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành (Mt 5,17-18)

Bất cứ quốc gia hay tổ chức lớn nhỏ nào trong xã hội loài người đều cần có luật, để giữ kỷ cương phép tắc, giữ trật tự an ninh và đảm bảo sự công bằng xã hội. Bài Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng việc Chúa Giêsu khẳng định Người đến không phải để phá bỏ lề luật mà là để kiện toàn Lề Luật và lời các Ngôn Sứ. Việc kiện toàn ít nhất mang hai ý nghĩa:

- Đối với Do Thái, lề luật và ngôn sứ liên kết với nhau, nên việc kiện toàn của Chúa Giêsu có nghĩa là Người thực hiện và đưa đến mức độ viên mãn những gì Thiên Chúa hứa trong Sách Thánh. Người là điểm đến và ứng nghiệm những gì chép trong Cựu Ước. Luật không bị mất hiệu lực một chấm một phẩy nào, nhưng đạt tới sự viên mãn nơi Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô.

- Từ nay trong Chúa Giêsu, luật được tuân giữ với tinh thần tự do và yêu mến Chúa, chứ không phải là một sự bó buộc phải làm hay phải giữ. Từ nay luật mang lấy một diện mạo mới là luật vì sự sống con người chứ không phải kềm hãm con người theo mặt chữ.

TÓM LẠI, kiện toàn lề luật mà Chúa Giêsu dạy chúng ta là không bãi bỏ luật nhưng mặc cho luật một tinh thần mới, nghĩa là vượt qua sự giữ luật cách tiêu cực để thi hành cách tích cực trong Chúa Kitô: giữ luật không vì sự bó buộc phải làm mà là với cả sự tự do muốn làm vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân, biến luật từ việc kìm hãm bản thân thành sự thanh thoát thánh hóa bản thân, giữ luật không dừng lại ở sự thể hiện ở ngoài mà là cả một tâm hồn ngay thẳng và trong sạch.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết vâng theo lời dạy của Chúa, để hân hoan giữ luật Chúa và Hội Thánh truyền trong tinh thần yêu mến và liên kết trong Người, hầu cho luật không còn là gánh nặng, nhưng giúp chúng con nên giống Chúa hơn. Amen

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

HÃY LUÔN BIẾT THA THỨ


“Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?”(Mt 18, 21).

Sự thường, trong đời sống ai cũng muốn mình được yêu thương, khi mắc lỗi ai cũng muốn đón nhận sự khoan hồng tha thứ, khi sa cơ lỡ vận thì luôn mong mình được người khác cảm thương. Nhưng chính họ lại không thích sống chân giá trị mà Đức Kitô dạy: “Những gì con muốn người khác làm cho mình, thì chính con phải làm cho người ta” (x. Mt 7,12). Trong Tin Mừng hôm nay, thánh Phê-rô muốn đặt ngược lại vấn đề thông thường trên, bằng cách muốn quảng diễn lòng quảng đại vị tha của mình đối với tha nhân. Thay vì mình đón nhận lòng xót thương, thì mình trao ban lòng thương xót cho người xúc phạm đến mình. Ông đến bên cạnh và hỏi Đức Giêsu: Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?”(Mt 18, 21). Theo các Ráp-bi thời xưa thì bảo có thể tha đến ba lần, nhưng Phê-rô đưa ra con số 7 vốn được coi là hoàn hảo, như để thể hiện đó là mức độ bao dung cực đại. Nhưng Chúa Giêsu lại vượt hẳn mọi mức độ trong chuyện này, Ngài nói: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.”(Mt 18, 22). Bảy mươi lần bảy ở đây không phải là bốn trăm chín mươi hay là một con số lũy thừa của số bảy mươi, nhưng mang một ý nghĩa tượng trưng hàm ý là tha mãi mãi – tha không giới hạn. Thật vậy, con người thường đưa ra cho nhau những hạn định trong mọi tương quan xã hội, kể cả phương diện đức ái. Con người đưa ra số lần tha thứ, đưa ra điều kiện để tha thứ, đưa ra mức độ nặng nhẹ để tha thứ và phân loại đối tượng được tha thứ… Còn Thiên Chúa thì chỉ biết tha thứ không giới hạn, bao nhiêu lần tội nhân chạy đến với Người là bấy nhiêu lần được Người tha thứ. Hôm nay, lời Chúa Giêsu nói với Phêrô rằng "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy", thì Người cũng đang mời gọi mọi người chúng chúng ta biết sẵn sàng để tha thứ cho nhau, như Chúa đã tha thứ cho chúng ta.

Liền sau lời mời gọi tha thứ không giới hạn là lời dạy của Chúa Giêsu về điều kiện để được Thiên Chúa thứ tha qua dụ ngôn “con nợ không biết thương xót”. Dụ ngôn phản ảnh bản tính của con người vốn muốn được tha thứ nhưng đến lượt mình lại khó tha thứ cho nhau.  Quả thế, Chúa Giêsu đã kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn “người mắc nợ không biết thương xót” để nói lên ý nghĩa của lòng xót thương, một tình yêu thương không bến bờ, luôn sẵn lòng tha thứ và ban ơn chữa lành của Thiên Chúa. Quay lại với cuộc sống đời thường, soi vào cõi lòng mình, chúng ta nhận ra mình là kẻ “nhân vô thập toàn” luôn cần đến lòng thương xót của Chúa; đến lượt mình, hãy cố gắng dằn lòng để không xét đoán kẻ khác và thể hiện lòng bao dung với họ như Chúa đã yêu thương mỗi chúng ta.

TÓM LẠI: Sự tha thứ trong tương quan giữa người với người được thực hiện, lại chính là tiêu chuẩn Chúa xét công trạng cho con người được ân thưởng Nước Trời. Vì: “Anh em đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét, đừng kết án để khỏi bị Thiên Chúa tuyên án…” Lỗi lầm giữa chúng chúng ta với nhau chẳng là gì so với lỗi phạm giữa chúng chúng ta với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã ngàn lần tha thứ cho chúng chúng ta thì đến lượt chúng chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau. Thật vậy, tha thứ thật ra là rất khó, nhưng lại là một phương thế tuyệt hảo nhất có thể hoá giải được những mâu thuẫn giữa người với người. Vì khi, cứ tìm cách trả thù nhau thì thù hận càng ngày càng chồng chất từ đời cha sang con đời cháu và cả những dòng tộc trả thù đến trường kỳ. Nếu tôi trả thù được anh thì con anh tìm cách trả thù tôi và cứ như thế mãi mãi. Còn khi lấy ân để trả thù thì không những thù được hoá giải mà còn dễ nên bạn hữu của nhau và làm gương cho hậu thế.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận ra mình cũng đầy yếu đuối và giới hạn, để từ đó dễ cảm thông và không lên án tha nhân. Xin cũng cho chúng con luôn biết sẵn sàng tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình, để chúng con cũng được Chúa thứ tha tội lỗi. Amen.

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

THÁNH CẢ GIUSE – MẪU GƯƠNG CÔNG CHÍNH


Bài Tin Mừng trong Lễ thánh cả Giuse hôm nay, chúng ta được thánh sử Matthêu giới thiệu cho chúng ta về thánh cả Giu-se là người cha “pháp lý” của Chúa Giê-su trong sự kiện nhập thể, giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-su. Bản văn Tin Mừng hôm nay được coi như là một trong ba bản văn Thánh Kinh Tân Ước tường thuật về các cuộc truyền tin, mà đây là cuộc truyền tin dành cho thánh Giuse. Thiên Chúa sai thiên thần đem đến cho thánh Giuse sứ điệp nhận lấy sứ mạng làm cha nuôi Chúa Cứu Thế và giữ gìn Đức Trinh Nữ Maria. Được thiên thần hiện ra tỏ tường giữa ban ngày mà Giacaria còn vặn hỏi, mẹ Maria còn đối đáp, còn thánh Giuse thì toàn bộ Thánh Kinh không tìm được lời nào của ngài. Điều này cho thấy, thánh Giuse là một con người của niềm tin và sự chiêm ngắm kết hiệp với Thiên Chúa mọi nơi mọi lúc, thậm chí nhận ra cả ý Chúa trong giấc mơ. Ngài tin tưởng tuyệt đối vào ý định của Thiên Chúa, và từ đó tin tưởng người bạn đời là Đức Maria. Niềm tin còn được thể hiện bằng hành động, khi ngài vui vẻ đón nhận mẹ Maria và tận tụy lo cho gia đình Thánh Gia được êm ấm. Thật vậy, Thánh Giuse là con người vâng phục ý Thiên Chúa:  Phúc Âm đã kể lại 3 lần Thiên Thần hiện ra trong giấc mộng để báo cho Thánh cả biết ý định của Thiên Chúa. Và lần nào Thánh cả cũng cuối đầu “Xin vâng” mà không hề có chút ý kiến phản dối. Lần thứ nhất, Thánh cả xin vâng để đón nhận Maria về nhà mình dù trong lòng đang phân vân nghi ngờ, lần thứ hai Thánh cả xin vâng khi đưa hài nhi và mẹ Ngài trốn sang Ai Cập, lần thứ ba Thánh cả xin vâng để trở về Palestine ở Nazaret => Cả 3 lần Thánh Giuse đều vâng lời mau mắn không hỏi tại sao?

TÓM LẠI, bài Tin Mừng nhân ngày Đại Lễ kính thánh cả Giuse, Giáo Hội cho chúng ta chiêm ngưỡng tấm gương thánh cả Giuse, là một người công chính, một người gia trưởng mẫu mực và là một con người của niềm tin luôn sống theo thánh ý Thiên Chúa. Chúng ta thì khác: chúng ta thường tìm ý mình hơn ý Chúa và mỗi khi gặp phải tai ươn họan nạn chúng ta thường kêu trách, xúc phạm đến Chúa.Vì chúng ta cho rằng: Chúa bất công thiên vị, và luôn cho rằng :vâng lời chỉ là thái độ của kẻ hèn nhác, mất tự do, mất nhân phẩm. Vậy, noi gương Thánh Giuse, chúng ta hãy sống yên lặng, làm việc và vâng phục Thánh ý Thiên Chúa để chúng ta trở nên những tôi tớ trung thành của Thiên Chúa như Thánh Giuse ngày xưa cũng như ngày hôm nay trên Thiên Đàng.

******

Lạy Chúa, xin cho mọi người chúng con biết noi gương thánh cả Giuse, sống công chính thánh thiện trước mặt Thiên Chúa, tận tụy phục vụ tha nhân, và đặc biệt, khi gặp khó khăn nguy khốn cũng biết chạy đến cùng thánh Giuse, để được ngài hướng dẫn bầu cử cho chúng con. Amen.

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

HÃY BIẾT KHAO KHÁT THIÊN CHÚA


Bài Tin Mừng hôm nay kể lại một cuộc gặp gỡ quan trọng và lạ lùng giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari. Nó đã trở thành biến cố quyết định, làm đảo lộn mọi sự trong cuộc đời của người phự nữ này. Từ lâu người Do thái và người Samari đã không qua lại với nhau nữa. Người Do thái từ xưa tỏ ra nghi kị người Samari, bởi vì nhóm ngưởi này gốc gác từ Babylon. Khi trở về định cư ở Palestina, họ đã mang theo tôn giáo và thần thánh của họ. Sự nghi ngờ ấy càng tăng thêm với thời gian, và coi như không thể hóa giải vào thời Chúa Giê su. Điều đó cắt nghĩa sự ngạc nhiên của người đàn bà Samari: Một người Do thái mà lại hạ mình xuống xin bà giúp đỡ à ? Và chị còn ngạc nhiên hơn nữa vì thái độ niềm nở của Chúa Giêsu biểu lộ qua lời nói thân thiện của Ngài. Trong cuộc gặp gỡ này, chúng ta khám phá hai cơn khát: cơn khát của Con Thiên Chúa đến tìm và “cứu chữa những gì đã hư mất”. Rồi đến cơn khát của người phụ nữ Samari đến đế lấy nước giếng. Nhưng trong lòng chị cũng còn âm ỉ tìm kiếm một tình yêu thực sự. Chị đã tìm và đã gặp khi nghe Đức Kitô nói đến một ơn ban đích thực của Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu. Phải chỉ có chính Chúa Kitô là Thiên Chúa mới lấp đầy được cơn khát vô biên, bởi khi có được Thiên Chúa, con người không còn mải lo tìm kiếm những gì chóng qua nữa. Sau những giây phút ngạc nhiên xa cách ban đầu, người phụ nữ Samari đã đi dần vào cuộc đối thoại. Bà đã xin Chúa Giêsu cho biết cần phải làm gì để được đẹp lòng Thiên Chúa. và đã bắt đầu hiểu biết về Đấng Messia. Nhờ chính cuộc gặp gỡ và đối thoại, người phụ nữ Samari đã có sự biến chuyển rất nhanh. Lúc đầu, chị nhìn nhận Chúa Giêsu chỉ là một người Do thái bình thường Ông là người Do thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari nước uống sao”(Ga 4,9), nhưng sau đó chị nhìn nhận Người là một vị ngôn sứ “ Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ” (Ga 4, 19). Và cuối cùng, chị đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô trước dân miền Samari và thôi thúc họ đến với Người: “đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” ( Ga 4, 29).

Với sự khéo léo trình bày của Tin Mừng, điều mà ta dễ dàng nhận thấy được nơi đây là Chúa Giêsu đã cùng lúc xóa đi được hai sự ngăn cách, đó là: Sự kỳ thị chủng tộc Do-thái – Samari và sự khác biệt giữa sống đạo “trong nhà thờ” với sống đạo “trong Thần Khí”. Thật vậy, Thiên Chúa không bao giờ là Chúa riêng của một người hay một dân tộc nào, bởi vì Người là Cha chung của mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc. Không một người nào, không một dân tộc nào và không một tôn giáo nào được độc quyền chiếm giữ Người cho riêng mình, hay nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ hiện diện trên đất nước của mình hay trong đền thờ của mình. Và Thiên Chúa là thần khí, mà thần khí thì vô hình nên ở đâu cũng có. Thiên Chúa hiện diện ở khắp mọi nơi. Thiên Chúa là Tình Yêu thì vượt trên thời gian và không gian nên không bị giới hạn ở đâu “trong nhà thờ” hay ngoài xã hội. Cũng vậy, không  phải người ta vào nhà thờ thì tỏ ra đạo hạnh, nhưng ra khỏi nhà thờ thì còn tệ hại hơn cả dân ngoại. Sống đạo là luôn ý thức Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi và luôn làm đẹp lòng Người mọi lúc. Cũng thế, Thiên Chúa trong sự thật, là khi con người biết tôn trọng chân lý mới là cách thờ phượng Người cách đúng đắn nhất. Con người thờ phượng Thiên Chúa không dừng lại ở nghi lễ bề ngoài, mà là thể hiện ra nơi cuộc sống. Tuy nhiên, cần phân biệt rằng, những ý nghĩa trên không phải cổ xúy cho việc “giữ đạo tại tâm” để rồi bỏ việc đến với nơi thờ phượng và né tránh những phận vụ kitô hữu, nhưng là luôn đặt mình trước mặt Chúa và tin Chúa hiện diện khắp mọi nơi, để không chỉ dừng lại việc tôn thờ Thiên Chúa ở nhà thờ hay các nghi lễ bề ngoài, mà là thể hiện ra bằng việc sống đạo trong mọi nơi mọi lúc bằng những hành động cụ thể. 

TÓM LẠI: bài Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta biết KHAO KHÁT THIÊN CHÚA là nguồn suối đích thực lấp đầy mọi ước vọng của chúng ta. Từ đó, chúng ta biết mở cửa lòng mình để xóa đi mọi ngăn cách mà đến với tha nhân mà loan báo về cách THỜ PHƯỢNG MỘT THIÊN CHÚA ĐÍCH THỰC, như người phụ nữ Samari xưa sau khi gặp Chúa đã bỏ lại tất cả để chạy vào làng loan báo cho mọi người và dẫn họ đến gặp Chúa và tất cả đều được biến đổi.

 ******

Lạy Chúa, chính chúng con đang tự dựng lên những hàng rào ngăn cách chúng con với Chúa và tha nhân. Xin cho chúng con luôn biết vượt lên trên những rào cản của kỳ thị, ghét ghen, để xây dựng sự hiệp nhất, luôn biết mở lòng ra để đón nhận chính Chúa vào trong cuộc đời, hầu thỏa vọng cơn khát tâm linh, là được hưởng hạnh phúc viên mãn trong Chúa. Amen.

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

THIÊN CHÚA LUÔN LÀ NGƯỜI CHA NHÂN TỪ


Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy. (Lc 15, 32)

Có lẽ không mùa Chay năm nào chúng ta không được nghe câu chuyện dụ ngôn về Người Cha Nhân Hậu. Song trước đây vì nhiều người đã quen gọi dụ ngôn này là dụ ngôn Người Con Hoang Đàng, nên đã bị hiểu theo hướng chú trọng vào người con thứ mà quên rằng, câu chuyện này Chúa Giêsu muốn nhắm đến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với cả hai người con, con thứ và người con cả. Câu chuyện muốn nhấn mạnh đến hình ảnh của một Thiên Chúa như người cha yêu thương, Ngài đau lòng vì người con thứ đã bỏ nhà ra đi, đã phủ nhận tình yêu thương và sự quảng đại mà người cha dành cho nó. Trong mắt nó, người cha như đã chết và không còn vị trí nào trong tâm hồn nó. Nó phung phí tài sản mà cả đời người cha đã vất vả dành dụm, nó bỏ nhà ra đi không hẹn ngày trở về, vậy mà người cha vẫn cứ kiên nhẫn, vẫn hy vọng và đợi chờ nó. Khi nó trở về ông vui mừng chạy ra ôm chầm lấy nó và hôn lấy hôn để. Người cha không hề giận dỗi, không hề bực bội khi thấy nó thân tàn ma dại trở về, ông vẫn mở rộng vòng tay, mở rộng lòng để ôm lấy nó như thể chưa bao giờ được ôm. Bao ngày ông mong đợi con ông trở về, nay khi gặp lại con, ông cũng chẳng quan tâm đến lời xin lỗi của nó, mà ông đã làm hết sức có thể để trả lại vinh dự cho nó. Dù đứa con thứ nghĩ mình không còn xứng đáng là con, không xứng đáng ở trong nhà, nhưng người cha thì quảng đại và bao dung hơn sự tưởng tượng của nó, ông sai đầy tớ lấy áo, lấy nhẫn, lấy giầy mới ra mặc vào cho nó. Ông không để cho nó tự mặc, mà ông còn để cho đầy tớ phục vụ nó như thể nó là cậu chủ trước đây. Ông sai mở tiệc ăn mừng vì một lý do hết sức đặc biệt : Vì con ta đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. (Lc 15,24)
Trước sự quảng đại của ông với người con thứ, thì với sự hẹp hòi nhỏ mọn của người con cả, anh ta đã không chấp nhận người em của mình trở về. Cũng trong lúc giận dỗi này anh đã bộc lộ cái nhìn và mối tương quan của anh với cậu em. Anh chưa bao giờ nhìn nhận nó là em của mình, anh cũng chưa bao giờ đồng cảm và thông cảm với em, mà anh coi nó không phải là em của mình, coi nó như một người chẳng có liên hệ gì với anh. Chính vì thế anh đã gọi nó là : Thằng con của cha kia, sau khi nuốt hết của cải với bọn điếm, nay cha lại cho giết bê béo ăn mừng. (Lc 15, 30). Đến đây câu chuyện cho thấy, người cha lại một lần nữa hết sức kiên nhẫn và rộng lượng với người con cả, và ông cho thấy, người cần bước vào nhà, cần trở về lúc này không còn phải là người con thứ nữa mà chính là Cậu Cả. Ông ôn tồn để nhắc cho anh: Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất nay lại tìm thấy.  (Lc 15, 31). Ông nhắc cho anh biết, dù anh không quan tâm đến cha, nhưng lúc nào anh cũng được ở với cha, ông cũng nhắc cho anh biết tất cả tài sản trong nhà, ông đã dành trọn cho anh là của anh, và ông còn mời gọi anh phải nối lại tình anh em với đứa em của anh.

Đã bao mùa Chay trôi qua trong cuộc đời, có lẽ vì thấy mình chưa đến nỗi như đứa con thứ bỏ nhà đi hoang, nên chúng ta không thấy mình cần phải trở về. Vì không nhìn thấy sai lầm thiếu sót của mình, nên chúng ta không thể thay đổi, không chịu sám hối, và coi việc sám hối là của người khác. Chúng ta có thể đã tự hào coi mình như người con cả vẫn đi nhà thờ, vẫn dâng lễ, chẳng bao giờ phạm tội gì nặng, không giết người không trộm cắp nên ta không cần phải sám hối. Thế nhưng chúng ta quên rằng, có thể chúng ta vẫn ở gần nhà thờ nhưng lại không ở gần bên Chúa, không gặp Chúa. Thực tế có thể chúng ta không trộm cắp giết người, nhưng lòng chúng ta lại xa Chúa, vì chúng ta đang cố tình đứng bên ngoài tình yêu thương của Chúa. Nhiều người trong chúng ta cũng cho mình cái quyền lên án xét xử anh em, sống hẹp hòi thiếu thông cảm, thiếu bao dung với anh em, và nhất là chúng ta đã bỏ qua tình yêu thương của Chúa.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết mặc lấy tâm tình của Chúa, luôn biết yêu thương, cảm thông, tha thứ và giúp đỡ tội nhân trở về với Chúa. Amen.