Translate

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

THỨ NĂM TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. (Mc 6, 12)

Bắt đầu thời kỳ rao giảng, Đức Giêsu kêu gọi Nhóm Mười Hai để các ông ở với Người và được Người sai đi rao giảng. Người mong muốn chia sẻ sứ mạng rao giảng với các tông đồ và để các ông tiếp nối sứ mạng của mình. Các tông đồ không sở hữu gì ngoài sứ điệp của Chúa, bằng một lối sống dung dị các tông đồ cũng không được đòi hỏi gì mà ngược lại phải rất ý thức về sứ mạng của chính mình, phải bằng lòng với những gì mình nhận được, chấp nhận lòng hiếu khách của người ta, các tông đồ cũng được dạy phải bằng lòng với nơi ăn chốn ở chứ không đi hết nơi này sang nơi khác để tìm một lối sống thoải mái hơn: “Bất cứ nơi đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ” (Mc 6, 10-11). Ðó là những đòi hỏi của chính Đức Giêsu đối với những người được sai đi thi hành sứ vụ : ra đi mà không có gì bảo đảm cho cuộc sống của mình, ra đi mà không mảy may dính bén với của cải vật chất, với lòi khen tiếng chê. Được sai đi rao giảng, các tông đồ cũng dấn thân vào một cuộc mạo hiểm, từ bỏ mọi thứ bảo hiểm cho sự an toàn của bản thân. Nhưng ngoài những cái các ông “không mang” thì các ông lại được ban quyền năng của Đức Kitô để rao giảng, trừ quỷ và chữa bệnh. Các môn đệ Chúa phải dám mạo hiểm nhưng là cuộc mạo hiểm kỳ thú, vì có Chúa vẫn đồng hành với họ.

Khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta mang trên mình sứ vụ làm công việc của Chúa, công bố sự thật của Chúa, phân phát ơn cứu rỗi đã được Chúa thực hiện. Đồng thời, khi rao giảng Lời Chúa thì cũng không thể lơ là hay đóng kín trước những việc phục vụ cho công cụ phát triển xã hội, phục vụ lợi ích tốt lành cho anh chị em.  Hơn nữa, loan Tin Mừng cốt yếu là làm chứng cho Chúa Giêsu, mà Chúa Giêsu đó đã sinh ra trong khó nghèo, sống kiếp nghèo và chết trong sự trần trụi trên Thập Giá. Vì thế, nếu đời sống của người rao giảng không thể hiện được tinh thần nghèo sẽ tự nó trở nên phản chứng. Chỉ thị mà nhóm mười hai đón nhận xưa kia cũng vẫn hiệu nghiệm với chúng ta hôm nay. Nhưng trước hết, chúng ta đừng quên điều tối quan trọng là trước khi làm chứng cho Chúa, rao giảng Tin mừng nước Chúa chúng ta cần có thời gian “ở với Chúa” và được Chúa huấn luyện. Chúng ta cần phải có tương quan mật thiết với Chúa trước khi thi hành sứ vụ được trao ban. Khi liên kết với Chúa bằng chính đời sống của mình, công việc của ta được Chúa nâng đỡ và trợ giúp. Trong mỗi Thánh lễ, mỗi giờ chia sẻ Lời Chúa… chúng ta không chỉ giới hạn vào việc nghe Chúa dạy bảo qua những sứ điệp mà ta còn phải nhận ra hoạt động của Chúa nơi mỗi người chúng ta để chính Chúa là niềm vui cho những hoạt động của chúng ta. Ta có thể chia sẻ sứ vụ của Chúa bằng đời sống đơn sơ của mình như Chúa đã chỉ thị cho các tông đồ nhưng mặt khác ta cũng không rao giảng lời nói, tư tưởng của mình cho người khác mà ta phải lệ thuộc vào sứ điệp là Lời của Chúa, sẵn sàng chấp nhận mọi hệ lụy khi dấn thân vào công việc tông đồ, bác ái hay bênh vực cho công lý. Chân lý hệ trọng này cũng đã được chính các môn đệ thể hiện: loan báo không những bằng lời nói, mà còn phải cho thấy nó có giá trị thực sự bằng hành động nữa.

Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta chia sẻ sứ vụ rao giảng với Chúa, Người cũng giúp chúng ta thi hành sứ vụ đó và khi tin vào Người, dấn thân vào sứ vụ của Người chúng ta cũng được thông phần vào quyền năng của Người. Điều đó đúng ngay cả trong thời đại của chúng ta. Có những nhà giảng thuyết có thế giá xuất thân không chỉ từ giáo sĩ mà còn từ tu sĩ và giáo dân. Ngày nay, qua Giáo hội, Chúa Giêsu tha thứ cho con người nơi bí tích thống hối và chữa lành bệnh tật nhờ lời cầu nguyện của các môn đệ của Người. Chúa cũng sai chúng ta đi vào lòng thế giới, để “rao giảng sự sám hối” (Mc.6,12). Bởi chỉ có sám hối nhìn nhận mình tội lỗi thì mới được hưởng ơn tha thứ; khiêm tốn nhìn nhận mình bất toàn mới được đổ đầy ân sủng. Sám hối là điều kiện đầu tiên phải có để đón nhận Tin Mừng. Sám hối để nhận ra mình sai mà quay về, sám hối để rũ bỏ tất cả để được Chúa ngự vào… Đó là một đòi hỏi khó khăn cho chính bản thân chúng ta và cho những người chúng ta gặp gỡ vì chẳng mấy ai thích nghe. Ðó cũng là thách thức của người tông đồ là phải can đảm nói lên những điều phải nói : “Nói mà không giảm nhẹ những đòi hỏi của Tin mừng. Nói mà không lợi dụng Tin mừng để mưu cầu cá nhân. Nói mà không trích dẫn Tin mừng để khoe khoang kiến thức. Nói mà không bóp méo Tin mừng để vuốt ve quần chúng. Dù sao Tin mừng vẫn phải được loan báo”. Hôm nay, Chúa cũng trao cho chúng ta những quyền năng như hành trang để lên đường. Ðó là quyền rao giảng Tin mừng, quyền trừ quỷ và quyền chữa bệnh. Chúng ta có thể chia sẻ Tin mừng với niềm hân hoan của người tìm được viên ngọc quí. Chúng ta có thể nói về Chúa như nói về một người bạn thân. Chúng ta có thể xua trừ quỷ bằng cách đẩy lui những thói hư tật xấu. Chúng ta có thể chữa bệnh bằng cách lau khô những giọt lệ của bao người quanh ta.

********

Lạy Chúa, mọi người chúng con hôm nay cũng được mời gọi sống sứ vụ rao giảng Tin Mừng trong ơn gọi Kitô hữu. Xin cho chúng con hăng say làm chứng cho Chúa bằng đời sống thanh bần đơn sơ phó thác, xây dựng sự hợp nhất bình an và làm cho Nước Chúa được lớn mạnh ngay trên quê hương trần thế. Amen.

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

THỨ TƯ TUẦN IV THƯỜNG NIÊN


Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.”(Mc 6, 4)

Sự quen thuộc dễ làm cho người ta nhàm chán, dễ khiến người khác xem thường và có khi còn làm cho người ta tỏ thái độ không thiện cảm, thiếu tôn trọng. Tin mừng Thánh Marcô hôm nay tường thuật Chúa Giêsu trở về với quê hương với tư cách là một thầy Rabi Do Thái, như vị giáo sư, thầy dạy. Ngày Sabát, theo tập tục, Ngài đến Hội trường Do Thái để giảng dạy. Ngài đã làm cho họ ngạc nhiên khi đến ngày Sabát Ngài vào hội đường và giảng dạy với những lời khôn ngoan. Dân làng vốn đã quá quen thuộc với nghề nghiệp của Ngài nên hỏi nhau: “Ông ta không phải là bác thợ”. Họ không những biết rõ lý lịch của Ngài: “Con bà Maria” mà còn thuộc lòng các mối quan hệ họ hàng thân thích của Ngài: “Anh em của các ông: Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm của chúng ta sao?”. Vì vậy, khi nghe những lời Ngài giảng dạy trong hội đường và chứng kiến những phép lạ Ngài làm họ không thể tin vào Ngài. Họ lấy làm ngạc nhiên về chính con người của Ngài: một người đầy quyền năng. Họ nghi ngờ chính Ngài và họ tự hỏi: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế nghĩa là gì?” (Mc 6, 2b). Sự âm thầm và khiêm tốn của Ngài suốt ba mươi năm sống cùng, sống với dân làng Nazareth khiến họ không thể loại bỏ những định kiến về Ngài. Quá khứ và hiện tại đan xen lẫn nhau khiến họ không nhận ra Ngài là Đấng Mêsia và họ cũng không thể tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa.Những người ở quê hương nhìn Chúa Giêsu với cái nhìn đầy thành kiến, vì họ biết quá rõ nguồn gốc nhân loại của Người, là con một bác thợ mộc Giuse nghèo nàn ở Nazareth, học hành chỉ ở trường làng, nhất là trong thâm tâm họ, Đấng “Kitô” phải là con cái trong hoàng tộc, sống nơi thành phố hoa lệ và được học hành nơi các bậc thầy danh giá… Chính vì thế, khi thấy Chúa Giêsu nổi tiếng giảng dạy thì bắt đầu họ gièm pha chê bai.

Vấn đề của người Do thái xưa dường như cũng là vấn đề của con người hôm nay, và có thể của chính chúng ta nữa, khi đối diện với ngôi vị của Đức Giê-su. Thật vậy, ngày nay, qua các phương pháp nghiên cứu sử học, đúng nghĩa hay giả mạo, người ta tự cho mình biết nhiều hơn và khách quan hơn về con người Đức Giêsu Nazareth, về tôn giáo của dân tộc Ngài, về bối cảnh văn hóa, xã hội và chính trị thời đại của Ngài. Người ta thán phục về nhân cách độc nhất vô nhị của Ngài. Có người cho Ngài là một nhà cải cách về tôn giáo, người khác về luân lý, người khác về xã hội, người khác cho Ngài là người duy lý, duy nhân bản,... Tuy nhiên, người ta không thể chấp nhận niềm tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa, là “Bánh từ trời xuống”. Khó khăn trong việc tin Đức Giê-su Nazareth, con của ông Giuse và bà Maria, là Con Thiên Chúa, là “Bánh từ trời xuống”, cũng chính là khó khăn khi chúng ta tin nơi Thiên Chúa, khởi từ thiên nhiên, lịch sử và những biến cố mà chúng ta đã trải qua.

Điều đó cho thấy, giữa “biết” và “yêu” đôi khi chẳng song hành với nhau, biết là một chuyện, yêu lại là chuyện khác. Tôi biết anh A chị B, nhưng chắc gì tôi đã yêu mến họ, tôi tin có ông này bà nọ hiện hữu, nhưng chắc gì tôi yêu thích họ và tìm đến gặp họ? Cũng vậy, người quê hương Na-da-rét biết rất rõ về nguồn gốc Chúa Giêsu và họ rất thông thạo Thánh Kinh nói về Người, nhưng họ không tin và không yêu mến…Ma quỷ tin có Chúa Giêsu hiện diện, nó biết rất đúng về Chúa Giêsu, thậm chí còn tuyên xưng Ngài giữa đám đông, nhưng liệu nó có yêu Ngài không? Thưa không. Chúng ta cũng cần tự vấn về mình, chúng ta vẫn cho rằng mình tin có Chúa, chúng ta tin Chúa Giêsu ngự trong Bí Tích Thánh Thể… nhưng liệu chúng ta có yêu mến Ngài thật không? Tin là một chuyện, nhưng có yêu mến hay không lại là một chuyện khác. Chúng ta tự hào là biết Thiên Chúa, qua học hỏi, qua nghiên cứu, qua những khảo luận thần học, chúng ta thậm chí tự hào về kiến thức đầy mình về Thiên Chúa, nhưng có bao giờ chúng ta cầu nguyện tâm sự với Ngài không? Có đến viếng Thánh Thể không? Thậm chí khi tự cho mình hiểu biết đã tạo nên sự thành kiến, và chính thành kiến đã ngăn cản con người tiếp cận chân lý, rồi sinh ra sự ghanh tỵ và gièm pha những ai thành công. Đây cũng là một thực trạng nơi mỗi quê hương chúng ta, chúng ta thường khinh miệt, yên trí và gièm pha những người con nơi quê hương chúng ta thành công trở về, vì trong chúng ta luôn bị cái tính thành kiến (yên trí) cha này, thầy nọ, soeur kia con ông này bà nọ không ra gì… Ngược lại, một vị nào đó từ nơi khác đến, dù xét về tài năng, về đạo đức, về giảng dạy đôi khi còn thua kém xa một người trong quê hương, thì chúng ta lại rất hồ hởi tung hô vì chúng ta không yên trí – thành kiến gì về họ. Nhưng đó là một thực trạng mà Chúa Giêsu từng trải qua, và những người môn đệ của Người cũng thế, hãy biết vui vẻ chấp nhận. Là cha, là thầy, là dì, là Giáo Lý Viên hay các cử nhân đại học... chúng ta hãy vui vẻ chấp nhận và luyện tập đức khiêm tốn… Lại nữa, “gần chùa kêu bụt bằng anh”, khi người Nazareth quá gần gũi nên đã sinh ra lơ là và coi thường. Chúng ta cũng thế, thích đi hành hương nơi này, cầu xin nơi nọ, nhưng ngay nơi giáo xứ mình, chúng ta lại bê trễ việc đến gặp Chúa trong các Thánh Lễ và Giờ Kinh…Qua bài Tin Mừng này Chúa mời gọi con – người mang danh Kitô hữu – cần xét lại hành vi thiếu đức tin của mình ít nhiều trong tương quan với Chúa và với anh em; những thái độ coi thường Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày, nhất là những định kiến hẹp hòi về anh chị em xung quanh cứ đóng kín con tim của con làm cho con không được Chúa chữa lành. 

********
Lạy Chúa Giêsu, trò không thể hơn thầy, nhưng nếu được bằng thầy thì đã là có phúc. Xin cho chúng con, nếu có phải nếm trải những sự thành kiến, kỳ thị và ghen ghét mà Chúa đã từng trải qua, thì cũng biết vui vẻ khiêm tốn đón nhận, để trong tất cả mọi sự Chúa được vinh danh. Xin Chúa cho con biết dẹp bỏ những thành kiến hẹp hòi để mở lòng ra, và thấy được những giá trị tốt đẹp của anh chị em con. Amen.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

THỨ BA TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.” (Mc 5, 34)

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu đến nhà ông Giairô là trưởng hội đường để chữa cho con gái của ông được sống lại. Câu chuyện bị gián đoạn bởi trên đường đi xảy ra việc xuất hiện một phụ nữ bị bệnh loạn huyết lẻn vào đám đông vây quanh Chúa Giêsu để chạm và Người. Xuyên suốt tường thuật nổi bật lên chứng từ niềm tin của hai nhân vật và Chúa Giêsu đã ra tay thực hiện điều họ ao ước bởi niềm tin của họ. Thật vậy, để củng cố lòng tin cho mọi người, Đức Giêsu đã thực hiện hai phép lạ cùng một lúc. Cả hai phép lạ đều diễn tả sức mạnh của lòng tin. Giữa lúc thập tử nhất sinh,giữa đau khổ và cái chết,con người như rơi vào bế tắc, chỉ có lòng tin như ánh sáng hy vọng giúp họ vượt qua tất cả và được sống. Trong hai phép lạ cùng có một sự “đụng chạm”. Người đàn bà đưa tay chạm đến áo Đức Giêsu và được khỏi bệnh, còn Đức Giêsu tiến đến cầm lấy tay đứa trẻ và em đã được cứu sống. Sự “đụng chạm” của người đàn bà biểu hiện lòng tin mãnh liệt, còn Đức Giêsu “đụng chạm” là do lòng thương cảm sâu sắc. Hai “đụng chạm” gặp nhau tạo nên một điều kỳ diệu đó là phép lạ.

Hành động của người đàn bà cho chúng ta kinh nghiệm về sự yếu đuối của thân phận con người. Sau mười hai năm dài mang trong mình chứng bệnh phụ nữ, bà đã vái tứ phương mà vẫn tiền mất tật mang, hơn nữa bà còn phải chịu nhiều thiệt thòi bởi quan niệm hẹp hòi rẻ rúng đối với phụ nữ trong xã hội Do Thái.Đặc biệt đối với người phụ nữ bị nhơ uế không được giao tiếp và đụng chạm đến người khác. Nhờ lòng tin, bà đã can đảm vượt qua những định kiến về văn hóa luật lệ để tiến tới sờ vào áo Chúa Giêsu và bà đã được khỏi bệnh. Như vậy, đức tin đôi khi cần một sự can đảm và liều lĩnh, vượt trên mọi mặc cảm và cả sự nguy hiểm để được chạm vào Chúa Giêsu. Mọi người chúng ta muốn đến được với Chúa rất cần một sự can đảm và liều lĩnh, nhất là khi chúng ta đang sống trong sự bi đát của tội lỗi, sống tách biệt với cộng đoàn đã lâu năm, bị mọi ngăn trở xã hội và cả tôn giáo tạo nên ngăn cản chúng ta đến với Chúa. Hãy can đảm đứng lên, mau chạy đến bí tích hoà giải để được Chúa chữa lành thương tích linh hồn, để hoà nhập với cộng đồng. Hãy chạy đến bí tích Thánh Thể để tâm hồn được chạm đến Chúa Giêsu và sinh lực từ Thánh Thể sẽ phát ra làm cho chúng ta nên mạnh mẽ. 

Còn ông Giaia dù là trưởng hội đường có địa vị trong xã hội nhưng ông đã đến sụp lạy xin chữa lành cho con gái ở nhà, Chúa Giêsu lại lên đường đi với ông về nhà. Quãng đường không biết bao xa, nhưng vì đám đông đi theo chen lấn, và xuất hiện một bà bị loạn huyết chen vào ‘phá đám’ nên chưa đến nơi thì có người đến báo là con ông Giairô đã chết. Có lẽ lúc này đức tin của ông trưởng hội đường bị đặt trước một thử thách rất lớn bởi lẽ ra Chúa Giêsu đã có thể đến sớm hơn để “bệnh nhân không chết nếu bác sĩ Giêsu đến kịp”. Thế nhưng Chúa Giêsu đã vội trấn an: “Ông đừng sợ, cứ vững tin!”. Và vì vững tin mà con gái ông Giairô đã được Chúa cho hồi sinh. Cũng vậy, hành trình đức tin của mọi Kitô hữu chúng ta là một chặng đường dài, đôi khi còn bị gián đoạn với bao yếu tố ngoại cảnh mà chúng ta không lường trước được, thậm chí có lúc tưởng chừng như tuyệt vọng. Nhưng nếu chúng ta vững chí như ông Giairô thì sẽ được cứu độ. Quả thế, lòng tin đã phá tan mọi khoảng cách, đã thôi thúc dẫn dắt ông đến với lòng thương xót của Thiên Chúa và con gái ông đã được cứu chữa. Như vậy điều kiện để phép lạ xảy ra đó là lòng tin cùng với lời cầu xin khiêm tốn.

Trong đời sống thiêng liêng, có những lúc chúng ta cảm thấy như đang bước đi giữa đêm tối mịt mù, đang bị nhấn chìm bởi bao khó khăn chồng chất. Đau khổ và cái chết luôn là gánh đè nặng trên thân phận con người khiến chúng ta dễ dàng chán nản thất vọng. Đức tin chi phối mọi hành động của chúng ta. “Đức tin làm cho chúng ta thấy rằng: ngoài việc làm đẹp lòng Chúa thì tất cả chỉ là hư không; đức tin làm cho chúng ta thấy sự yếu đuối của ta trước vẻ cao cả của Thiên Chúa. Đức tin giúp ta dám làm tất cả những gì đẹp lòng Chúa mà không do dự, không hổ thẹn, không sợ hãi và không chùn bước” (Cha Charles de Foucauld). Khi đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa chúng ta có đủ sức mạnh thắng vượt con người yếu đuối của mình mà vươn lên đến sự hoàn thiện.

Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa dạy chúng ta luôn vững tin vào Chúa dù gặp phải bao khó khăn thử thách. Đức tin được rạng ngời nhờ sự thanh luyện gian nan và trường kỳ. Đức tin đòi hỏi một sự can đảm liều lĩnh và một sự kiên nhẫn vững tâm, để nhờ đó chúng ta mới đạt đến chân lý cuối cùng là Ơn Cứu Độ.

*********

Lạy Chúa, xin cho chúng con can đảm bước theo Chúa giữa những thử thách đau thương của cuộc đời. Xin cũng cho chúng con biết năng chạy đến với bí tích hoà giải để được Chúa chữa lành bệnh tật thiêng liêng trong tâm hồn chúng con. Amen

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

THỨ HAI TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết những điều Thiên Chúa đã làm cho anh và đã thương anh như thế nào. (Mc 5, 19)

Thế gian, ma quỷ và xác thịt là ba kẻ thù lớn nhất ngăn cản người Ki-tô hữu chúng ta trên con đường tiến lên hoàn trọn như Cha của chúng ta là Đấng hoàn trọn. Bộ ba kẻ thù này luôn rảo quanh, rình rập và tìm mọi cơ hội để kéo chúng ta xa khỏi tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng bất chấp, không vị nể bất cứ ai, dù người đó là thánh thiện, dù người đó đạo đức, dù người đó là bậc tu hành hay dù người đó có lý trí vững vàng... chúng cũng không buông tha. Bộ ba kẻ thù này như ma lực trực chờ ta sơ hở kéo ta sa vào đường tội lỗi. Vậy làm thế nào để người Ki-tô hữu có thể tự giải thoát mình khỏi những sự kìm kẹp này? Không gì khác hơn là tin vào sức mạnh, quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa. Đồng thời chúng ta khiêm nhường thống hối, trung thành với lời cầu nguyện và năng lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa.

Phụng vụ Lời Chúa ngày hôm nay, thánh Mác-cô cho chúng ta thấy sức mạnh, quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa đã chiến thắng trên ma quỷ và giải thoát con người khỏi sự giam hãm của chúng. Một chàng thanh niên bao năm bị quỷ thần điều khiển, hành hạ. Mang thân xác, hình hài con người nhưng anh bị dân làng, bà con lối xóm xa lánh, trốn chạy chỉ vì anh là quỷ, là ma với một lối sống sinh hoạt khác người như sống trên núi đồi, nơi mồ mả, miệng la hét, tự đập đầu... và không gông cùm, xích xiềng nào có thể giam hãm anh ta lại (xc Mc 5, 3-6). Nhưng may mắn và phúc lành cho anh, hôm nay Đức Giê-su tình thương chính là Người đã giải thoát anh khỏi ách thống trị của ma quỷ và cho anh được tự do hòa nhập lại với cuộc sống dân làng. Thánh Marcô còn cho thấy uy quyền của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu khiến tất cả ma quỷ phải sợ hãi. Nếu như trước đây, thế giới và con người dường như phải sống dưới bóng tối và sự kìm hãm của ma quỷ, thì nay với sự xuất hiện của Chúa Giêsu, bóng tối đã bị đẩy lui và ma quỷ phải khiếp sợ bỏ chạy dù nó có cả một đạo binh. Bằng một mệnh lệnh : Thần ô uế kia, hãy xuất khỏi người này (x. Mc 5, 8) chúng đã sợ hãi tuân theo. Cả đạo binh quỷ xin được nhập vào đàn heo, theo người Do Thái, là những con vật kinh tởm, bẩn thỉu và được Chúa Giêsu đồng ý. Cả đàn heo lao xuống vực chết hết. Điều đó có nghĩa là với thời đại của Chúa Giêsu, một thời mới, thời của giải thoát và tự do được mở ra, con người không còn sợ hãi hay bị kiềm tỏa bởi ma quỷ nữa, tử thần và ma quỷ sẽ phải trở về với nơi của nó, và quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện.

Trước phép lạ và những sự việc như thế đã có hai phản ứng khác nhau. Những người trong thành khi nghe biết những phép lạ thì kéo nhau ra xem. Họ thấy Chúa Giêsu và kẻ trước đây bị quỷ ám đang ngồi đó, nay đã khỏe mạnh bình thường. Họ cũng nghe kể lại những việc đã xảy ra. Tuy nhiên, những người này dường như không tin, họ không muốn đón nhận Chúa Giêsu và quyền năng của Ngài. Trái lại, họ nài xin Chúa đi khỏi vùng đất của họ. Chi tiết này cho thấy một sự thật phũ phàng : Trong cuộc sống, nhiều người dù đã nhìn thấy những việc Chúa làm cho mình hoặc cho anh em, nhưng họ vẫn cố tình từ chối tin Chúa Giêsu vì sợ Ngài làm phiền mình. Những người Gherasa đã muốn chọn sống trong bóng tối thay vì sự sáng, chọn sống trong nô lệ thay vì được tự do. Vì thế, họ đã  xin Chúa ra khỏi vùng đất của họ. Trái lại, người bị quỷ ám đã có một thái độ tích cực hơn, anh nài xin được ở với Chúa Giêsu, tức là anh xin được từ nay thuộc về Chúa Giêsu chứ không còn thuộc về ma quỷ nữa, từ nay anh thuộc về ánh sáng chứ không còn thuộc về bóng tối nữa. Chúa Giêsu đã ghi nhận thiện chí của anh, nhưng Chúa muốn anh bày tỏ lòng biết ơn Chúa bằng một cách khác và ở với Chúa bằng một hình thức khác. Chúa nói với anh : Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết những điều Thiên Chúa đã làm cho anh và đã thương anh. (x. Mc 5, 19) Nói cho mọi người về những điều Thiên Chúa đã làm và đã thương anh, đó là cách bày tỏ lòng biết ơn mà Chúa Giêsu muốn nơi chàng thanh niên này. Chúa muốn anh cảm nhận về tình yêu của Thiên Chúa như thế nào thì nói cho người khác như vậy. Nói cho mọi người về những gì Chúa đã làm là nói về quyền năng của Thiên Chúa mà chính anh đã chứng kiến, đồng thời chia sẻ cho mọi người cảm nhận về tình yêu mà Thiên Chúa đã thương yêu. Chúa không yêu cầu anh phải làm những việc lớn lao để bày tỏ lòng biết ơn, nhưng là về nhà gặp gỡ trước hết là những người thân trong gia đình để nói với họ về Thiên Chúa yêu thương mình.

Điều Chúa nói với người bị quỷ ám cũng là điều Chúa muốn chúng ta hôm nay. Chúng ta tin vào một Thiên Chúa quyền năng và cũng được chứng kiến quyền năng Thiên Chúa vẫn đang thực hiện trong cuộc đời mình, nhưng chúng ta nhiều khi ngại ngần không dám nói cho mọi người về niềm tin của mình. Thật vậy, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương nhưng chúng ta ngại ngần  nói về tình yêu của Thiên Chúa cho người chung quanh. Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta phải chịu đau khổ bởi ma quỷ và tội lỗi. Ngài đã hy sinh mạng sống để cứu chuộc chúng ta và còn không ngừng ban ơn trợ giúp để chúng ta chiến thắng ma quỷ và tội lỗi, cho chúng ta được sống trong sự tự do của con cái Chúa. Xin cho mỗi chúng ta luôn tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa quyền năng và là Đấng bảo vệ, yêu thương từng người chúng ta.

********

Lạy Chúa! Xin cho mỗi người chúng con cũng biết thể hiện lòng biết ơn Chúa bằng cách nói cho nhiều người biết về những gì Chúa đã làm và đã yêu thương mình. Amen.

Thứ Bảy, 27 tháng 1, 2018

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN- B


Mọi người đều sững sờ đến nỗi họ bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì? Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh! (Mc 1, 27)

Chúa Giê su đi vào trần gian đã là một biến cố gây sửng sốt cho người đương thời. Ngài là người thợ mộc vô danh, nhưng lại có một cách nói năng đầy quyền uy như chưa từng có ai nói được như thế. Ngài hoàn thành những điều mà chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng thực hiện, thế nhưng chỉ có những kẻ bé mọn và nghèo hèn mới có thể đến gần Ngài. Họ mạnh dạn đi theo Ngài, và trở nên gương mẫu cho chúng ta. Bài tin mừng chúa nhật hôm nay đưa chúng ta về đầu đời sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Ngài đến kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên nơi bờ  hồ Tibêríat, rồi cùng với họ, Ngài đến Caphácnaum để công bố Tin Mừng. Thành phố ấy được coi như là một nơi nhiều tai tiếng, nên việc Ngài bắt đầu sứ vụ cứu thế từ nơi ấy cho thấy rằng Ngài đến trần gian là để tìm và cứu vớt những người đã hư mất.

Bài tin mừng hôm nay không kể cho chúng ta nghe những gì  Chúa Giêsu đã nói, nhưng nhấn mạnh sự kiện là Ngài nói một cách đầy uy quyền. Không những lời ấy khiến mọi người phải ngạc nhiên nhưng nó còn giải thoát một người bị ma quỉ ám. Do vậy, đó là một lời làm cho sống, thật vậy, Chúa Giê-su đến để nối kết tình nhân loại. Ngài không tìm quyền bính và danh vọng. Ngài không chạy theo những toan tính vụ lợi cho bản thân. Ngài đển để phục vụ và hiến dâng mạng sống cho người mình yêu được sống và sống dồi dào. Chính đời sống khiêm nhu xoá bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài đã sống một cuộc đời phục vụ tha nhân một cách không mệt mỏi. Ngài đã phục vụ mọi người bất luận sang hèn, bất luận già trẻ. Ngài đã từng quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Ngài còn rửa chân cho cả Giu-đa kẻ sẽ bán ngài với giá 30 đồng bạc. Ngài đã sống một cuộc đời nghèo khó đến độ “sinh vô gia cư – chết vô địa táng”. Vâng, Chúa Giê-su, Ngài đã thi hành quyền bính của mình là đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Đối tượng được Ngài phục vụ là các bệnh nhân, là những người nam, người nữ đang bị thần ô uế thống trị, là những con người nghèo khổ, bất hạnh đang bị bỏ rơi bởi đời sống thiếu vắng tình người của đồng loại. Tình thương đó đã được thể hiện trên  người bệnh nhân bị thần ô uế thâm nhập mà đoạn tin mừng thánh Marco hôm nay tường thuật lại. Ma quỷ cũng nhìn nhận quyền bính của Ngài nên đã thốt lên: Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Người đồng hương cũng nhìn nhận Ngài có đầy uy quyền trên môi miệng và nhân cách của Ngài. Họ đã khâm phục ngài vì giáo lý thì mới mẻ, và người dạy lại có uy quyền”. Người Ki-tô hữu cũng được tham dự vào vương quyền của Chúa Giê-su qua bí tích Rửa tội. Người Ki-tô hữu cũng được mời gọi dùng tình yêu để hoán cải lòng người, để hàn gắn những hố sâu ngăn cách của giàu nghèo, của địa vị sang hèn. Dùng tình yêu để phục vụ anh em, để dấn thân quên mình vì hạnh phúc của tha nhân. Sự hiện diện của người Ki-tô hữu phải là những ngọn nến sáng chịu hao mòn để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho cuộc đời. Người Ki-tô hữu phải là những hạt lúa chịu nghiền nát để dâng hiến cho đời những hương thơm của phục vụ, của bác ái và vị tha. Người Ki-tô hữu được mời gọi theo gương Thầy Giê-su biết dùng quyền để phục vụ, biết dùng tình yêu để hàn gắn những thương đau của chia rẽ và hận thù, biết lấy đức ái để sống vì lợi ích của tha nhân.

TÓM LẠI: Tin mừng của Thiên Chúa được Chúa Giêsu công bố chính là sự hiện diện của Ngài ở giữa chúng ta. Sự hiện diện ấy hãy còn kín nhiệm nhưng tiếp tục dạy dỗ và chữa lành khỏi mọi nguy khốn. Chúa Giêsu đã không gặp người bị quỉ ám trên đường hay nơi công trường, nhưng trong hội đường, ở giữa cộng đoàn họp nhau cầu nguyện. Ngay trong chính các cộng đoàn của chúng ta, có thể vẫn có những đồng lỏa với sự xấu. Cả chúng ta cũng có thể là nô lệ cho các đam mê của mình, tiền bạc và nhiều điều khác nữa. Thế mà chỉ cần một lời nói là có thể giải thoát chúng ta, nhưng với điều kiện là không đồng lỏa với sự dữ trong chúng ta. Rất thường chúng ta để mình bị lôi cuốn theo thế giới tuyên truyền bằng những lời vô bổ, và ngăn cản chúng ta tiếp nhận Lời giải thoát trong thinh lặng. Vậy chúng ta hãy để cho Lời ấy thấm nhập và  tra vấn chúng ta, để biến chúng ta thành những con người mới, những con người tự do. Như thế lời của chúng ta cũng sẽ có thể là lời giải thoát. Lời chúng ta nói, cách hành động của chúng ta sẽ mang lại niềm tin; nó sẽ giúp chúng ta muốn đứng lên, và hành động như những tiên tri cho con người thời nay. Qua bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giê su đến gặp chúng ta đang quy tụ trong danh của Ngài. Trước mặt Ngài, chúng ta là một dân tội lỗi, nhưng được Ngài giải thoát và cứu chữa, để làm nảy sinh một dân tộc mới, một thế giới mới.

*********

Nguyện xin Chúa Giê-su là Đấng đến để phục vụ, ban cho chúng ta tinh thần xả kỷ hy sinh, biết sống cho tha nhân và vì tha nhân hơn là vun quén cho bản thân. Nguyện xin Chúa là Đấng đến để chữa lành tâm hồn và thể xác con người, xin cũng chữa lành tâm hồn chúng ta khỏi những ràng buộc của tội lỗi, của đam mê nhục dục để biết sống cao đẹp giữa mọi người. Amen

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2018

THỨ BẢY TUẦN III THƯỜNG NIÊN


Rồi Người bảo các ông : “Sao nhát thế ? Anh em vẫn chưa có lòng tin sao ?” (Mc 4, 40)

Tin mừng Mác-cô hôm nay thuật lại rằng: khi Đức Giêsu đã giảng dạy cho đám đông dân chúng xong, Ngài bảo các môn đệ chèo thuyền qua bờ bên kia. Nhưng, đang khi đi thì một trận cuồng phong nổi lên, nước ập vào đầy thuyền, và mọi người kinh sợ, bởi thuyền có thể bị chìm; đang khi đó, Đức Giêsu vẫn nằm ngủ say sưa. Họ đến lay Đức Giêsu dậy, với âm giọng như trách móc “chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” Đức Giêsu đã trỗi dậy, và truyền cho trận cuồng phong dừng lại và sóng yên biển lặng. Kèm theo uy quyền ấy, Ngài trách mắng các môn đệ “Sao nhát thế, anh em vẫn chưa có lòng tin sao?”.(Mc 4, 40). Với phép lạ lớn lao ấy, Đức Giêsu đã lần nữa tỏ cho các môn đệ và muôn dân biết Ngài là Đấng Mêsia, cho họ thấy thần tính của Ngài và chính Ngài là con Thiên Chúa thật như lời Gioan tẩy giả đã giới thiệu. Chúng ta hãy đọc chậm rãi đoạn tin mừng và chú ý đến vài chi tiết mang tính biểu tượng: “Biển Hồ” là nơi đầy nguy hiểm, ở đó đầy “thủy quái dị hình” là ma lực của bóng tối, của tà thần. “Trận cuồng phong” là sức mạnh của sự dữ, nó như một con thủy quái kinh khiếp và mạnh mẽ đến nổi làm cho mọi người kinh hồn bạc vía. Đối lại với tà lực ấy, thì Đức Giêsu vẫn “đang ngủ”, điều này cho thấy Ngài chẳng bận tâm hay lo lắng gì về thế lực sự dữ, bởi lẽ Ngài luôn tin tưởng vào Thiên Chúa Cha. Khi được gọi dậy, Ngài ngăm đe gió và biển “im đi, câm đi”, một vẻ giọng khỏe khoắn đầy quyền năng. “Im đi, câm đi” là một mệnh lệnh vì cơn bão được xem như con thú dữ, điều này cho ta hiểu Đức Giêsu đang chứng tỏ Ngài có thể kiểm soát được mãnh lực của tà thần, của sự dữ. Quả thế, mệnh lệnh được phán ra là “biển lặng như tờ”.

Chúa Giêsu chứng minh sức mạnh và sự phát triển không có gì chống lại được của Nước Thiên Chúa. Người chứng tỏ điều này bằng một dấu chỉ quyền năng là phép lạ dẹp tan sóng gió trước khi đi vào miền đất dân ngoại, nghĩa là chiến thắng của Tin Mừng trên ma quỷ vượt ra ngoài biên giới Israel. Khi đối mặt với mọi hình thức sự dữ đang tấn công con người trong các trận cuồng phong nó gây nên, đôi khi chúng ta tự hỏi: Phải chăng Thiên Chúa đang ngủ? Thật vậy, cảm nhận của con người giữa biển đời lắm khi như Thiên Chúa ẩn mình hay vắng bóng. Và rồi giữa phong ba bão tố cuộc đời, con người lựa chọn đương đầu ít nhất với 3 cách:

-Dùng sức mình để vật lộn với sóng gió để rồi thất bại tuyệt vọng,
-Chạy đến với Thiên Chúa mọi nơi mọi lúc nên không bao giờ sợ hãi,
-Gặp khi khó khăn mới chạy đến kêu cứu Chúa, nghĩa là coi Chúa chỉ như một phương thế giải quyết tức thời, mà thiếu đi đức tin thật sự và lòng yêu mến nồng nàn.

Trường hợp thứ ba này là trường hợp của dân Do-thái xưa, sách Xuất Hành và đặc biệt là sách Thủ Lãnh là một câu chuyện lặp đi lặp lại khi dân bị quân thù ức hiếp thì kêu cứu Chúa, Chúa giải cứu rồi lại tiếp tục phản nghịch Ngài…Và có thể nói, đây cũng là thái độ của các môn đệ của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, khi họ chưa có niềm tin và lòng yêu mến Thầy cho đủ, đến nỗi ngay khi chứng kiến phép lạ rồi vẫn ngỡ ngàng không hiểu Thầy là ai. Thầy Giêsu đang ở trên thuyền nhưng có vẻ như không có Người hiện diện, cho đến khi sóng gió bủa vây mà kinh nghiệm chống đỡ của dân làng chài như mấy ông đã bất lực mới chạy đến cầu cứu Thầy. Đó cũng là cách sống và giữ đạo của không ít người trong chúng ta ngày nay. Khi an vui hạnh phúc chúng ta quên mất sự hiện diện của Thiên Chúa, đến khi gặp khó khăn thất bại mới tìm về cầu cứu Chúa. Sống đạo như thế là hời hợt, thiếu niềm tin đích thật và thiếu lòng lòng mến Chúa Giêsu. Cũng không thiếu những người ỷ lại vào khả năng mình mà thiếu đi lòng tín thác vào Chúa nên khi gặp sóng gió đã dễ ngã lòng kêu trách Người. Với niềm tin của người Ki-tô hữu, chúng ta cần xác tín rằng Thiên Chúa đang lữ hành cùng chúng ta trên chiếc thuyền ấy. Khi gặp những khó khăn trong cuộc sống, lúc gặp nghi nan và phạm tội, chúng ta có dám chạy đến với Chúa, để xin ơn trợ lực với thái độ tin tưởng tín thác, hay ngược lại  ta tự mình tìm cách để cải thiện tình trạng bi thảm của mình mà không hề nghĩ đến ơn Chúa, và thậm chí ta chẳng dám tin vào sự trợ lực của Ngài. Như các môn đệ trong đoạn tin mừng, ta cứ tìm cách chèo chống mà quên đi sự hiện diện của Chúa bên cạnh “Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Ta cũng mãi ngồi than thân trách phận và nói “sao Chúa mãi im lặng? Ngài chẳng bận tâm đến sự khốn khổ của con sao?”

**********

Lạy Chúa, xin cho mọi người chúng con luôn tin tưởng vào sự hiện diện của Chúa trên con thuyền cuộc đời chúng con giữa biển đời sóng gió. Để chúng con không bao giờ nao núng vì Chúa đã chiến thắng nên chúng con cũng sẽ chung phần chiến thắng và cập bến Nước Trời. Amen.

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

LỄ THÁNH TIMÔTHÊ VÀ TITÔ, GIÁM MỤC


Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. (Lc 10, 3)

Phụng vụ Giáo Hội luôn có bài Tin Mừng riêng trong các lễ về vị thánh được nhắc tới trong Thánh Kinh, cụ thể là hôm nay trong ngày mừng kính hai vị thánh Giám mục là đồ đệ của thánh Phao-lô, Giáo hội cho đọc Tin mừng về việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi truyền giáo. Quả thế, chức vụ đi đôi với sứ vụ, khi chúng ta lãnh nhận một chức vụ gì, không phải ngồi đó để thụ hưởng mà phải ra đi đến với những người chúng ta có trách nhiệm, để phục vụ và làm chứng về Chúa cho họ. Khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta mang trên mình sứ vụ làm công việc của Chúa, công bố sự thật của Chúa, phân phát ơn cứu rỗi đã được Chúa thực hiện. Đồng thời, khi rao giảng Lời Chúa thì cũng không thể lơ là hay đóng kín trước những việc phục vụ cho công cụ phát triển xã hội, phục vụ lợi ích tốt lành cho anh chị em. Ngày hôm nay, cánh đồng truyển giáo còn rất bao la, Kitô Giáo chỉ mới bằng 1/6 dân số thế giới. Đặc biệt, ngày hôm nay, con số “thợ gặt” đang giảm tới mức báo động, nhất là ở các nước phát triển. Giới trẻ ngày nay đã không còn mặn mà với ơn gọi lên đường truyền giáo. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chúa Giêsu, chúng ta hãy xin “chủ mùa gặt” sai thợ đi gặt lúa về; nghĩa là hãy cầu nguyện nhiều cho ơn gọi linh mục tu sĩ, và hãy làm những gì có thể trong khả năng mình, để trợ giúp cho việc đào tạo các ơn gọi và đóng góp cho công cuộc truyền giáo.

Tin Mừng hôm nay còn đặc biệt họa lên chân dung của một người môn đệ Chúa Giêsu trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, là: Tinh thần khó nghèo, đem đến sự bình an, và làm cho triều đại Thiên Chúa được hiển trị ngay giữa thế gian này:

- Tinh thần khó nghèo: Chúa muốn nhà truyền giáo phải dựa vào ơn Chúa trước khi dựa vào tiền bạc, dựa vào sự trợ giúp của Chúa hơn là sự trợ giúp của phương tiện vật chất. Chính ơn Chúa mới đem lại sự bình an thanh thoát trong tâm hồn. Sự từ bỏ, quên mình hoàn toàn mới chu toàn được sứ vụ rao giảng. Đi truyền giáo mà với đầy dẫy những thứ cồng kềnh vướng bận thì khó mà toàn tâm toàn ý lo cho sứ vụ, bon chen và ham mê công việc lấn át hết thời giờ cho Chúa.

- Đem bình an đến cho mọi người: “Bình an cho nhà này”. Dựa theo Thánh Kinh Cựu Ước, ta nhận thấy văn hoá giao tiếp vùng Trung Cận Đông thường dùng câu “bình an” để chào hỏi nhau khi gặp mặt. Sứ điệp bình an cũng được các thiên thần hát lên khi Chúa Giêsu Giáng Sinh. Và bây giờ, khi sai các môn đệ đi truyền giáo, tiên vàn hãy đem bình an đến cho mọi người. Sự xuất hiện của các chứng nhân Tin Mừng là đem đến cho con người sự bình an đích thực của Chúa, phá tan những lo âu, chia rẽ và hận thù.

- Làm cho Nước Thiên Chúa đến gần.Hãy nói với họ rằng Nước Trời đã gần đến”. Rao giảng Tin Mừng là làm cho muôn dân trở thành môn đệ, trở về làm con Chúa, trở thành anh em một nhà… và như vậy, vương quốc Nước Trời đã chính thức hình thành ngay trên trần gian này.
Cùng với các môn đệ Chúa Giêsu, mọi người chúng ta hôm nay cũng được mời gọi sống sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng đời sống thanh bần đơn sơ phó thác, xây dựng sự hợp nhất bình an và làm cho Nước Chúa được lớn mạnh ngay trên quê hương trần thế, cách riêng, niềm tin, bác ái, hoan lạc và bình an thắm đầy trên giáo xứ chúng ta.

******* 

Lạy Chúa, không phải tìm kiếm đâu xa, mà ở ngay bên cạnh gia đình chúng con, gần bên giáo xứ chúng con, ngồi bên cạnh chúng con nơi học đường, làm với chúng con nơi công sở… còn rất nhiều người chưa nhận biết Chúa. Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa mà đem Tin Mừng cho họ bằng việc cảm hóa họ qua đời sống đạo đức của chúng con. Amen.