Translate

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

THỨ BẢY TUẦN 30 THƯỜNG NIÊN


Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên (Lc 14, 11)

Một trong những phương pháp giảng dạy của Chúa Giê-su là Ngài dùng chính những hình ảnh quen thuộc xảy ra trong đời sống hàng ngày, trong cách đối nhân xử thế và cả trong cái lề thói giữ luật của những người luôn cho mình hơn người… để nói về một triết lý sống về thái độ mà con người phải có đối với Thiên Chúa và đối với anh em đồng loại. Vì trong xã hội, ai cũng muốn mình được người khác xem trọng, kính nể, nên nhiều kẻ đã cố tạo ra một cái mặt nạ khi “tô son trát phấn” cho mình với những hình thức bên ngoài, để gây chú ý, có được một chút tiếng tăm hoặc tạo sự tin tưởng nơi người khác. Lúc đó, sự hoang tưởng biến họ thành nhân vật quan trọng, cho mình là “cái rốn” vũ trụ, sinh lòng tự cao tự đại và xem thường mọi người. Tin Mừng hôm nay, thánh sử Luca thuật lại việc Chúa Giêsu nhân dịp dự bữa tiệc tại nhà một người biệt phái và quan sát thấy người ta tranh giành nhau chỗ nhất- đã dùng dụ ngôn để dạy bài học về sự khiêm nhường. Khi kể dụ ngôn như thế, Chúa Giêsu không có ý đưa ra bài học về phép lịch sự, nhưng Ngài chỉ muốn nhân cơ hội này lập lại bài học khiêm nhường mà Ngài thường xuyên giảng dạy: “những kẻ bé mọn sẽ trở nên cao trọng”, “nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, anh em sẽ không được vào Nước Trời”... Chắc hẳn khi viết đoạn Tin Mừng này, Thánh sử Luca đã liên tưởng đến những cộng đoàn phụng vụ, trong đó khi người ta tụ họp lại, những vấn đề về giai cấp, giàu nghèo đã nảy sinh. Đó là một thực tế không chỉ xảy ra trong xã hội Do Thái, thời Chúa Giêsu, trong cộng đoàn tín hữu sơ khai, mà còn xảy ra trong xã hội và trong cộng đoàn Kitô hữu hôm nay.

Trong cuộc đời người Ki-tô hữu, kể cả những người sống trong đời thánh hiến, tất cả đều mang tâm trạng tốt lành ban đầu là: phục vụ Thiên Chúa và con người trong  khiêm tốn. Nhưng theo giòng thời gian, tư tưởng ấy bị mai một. Chúng ta tìm mọi cách để tôn cái tôi của mình, muốn người khác biết đến công trạng của mình đã hy sinh cho việc chung hoặc quy về lợi nhuận cho bản thân, cho gia đình, cho tổ chức của mình, như : gắn bảng tên tại chỗ quả chuông hay tượng đài Đức Mẹ vì đã bỏ tiền dâng cúng; tự hào và kể công khi phục vụ trong chức vụ Ban Hành Giáo hai, ba nhiệm kỳ và đòi hỏi phải được giáo xứ, cha xứ ưu ái hay đền ơn đáp nghĩa. Hội đoàn của tôi phải cờ quạt, rước sách, tổ chức lễ thật to, mời cha này, sơ kia… để nở mặt nở mày. Với các linh mục tu sĩ: tôi đã rửa tội cho hàng trăm người, xây được vài nhà thờ, đền đài, thậm chí là nghĩa trang… Hơn nữa là việc tổ chức các cuộc lễ hội thật hoành tráng, tiêu phí thật nhiều, thậm chí nhà thờ này phải to hơn, cao hơn nhà thờ nọ, mà quên mất tinh thần loan báo Tin Mừng đã chẳng đi vào lòng người được bao nhiêu? …Hay những dịp lễ truyền chức, tạ ơn, khấn dòng phải đưa lên Internet hay Youtube để rao giảng Tin Mừng hay để “cái tôi” của nhóm tôi, của dòng tu tôi, của giáo xứ, giáo phận tôi được biết tới? Vì thế, chúng ta luôn tự hào và tìm kiếm sự kính trọng, lòng biết ơn và sự tán thưởng của người đời mà quên rằng: mình đã được thưởng công rồi và Thiên Chúa sẽ chẳng còn chỗ để thưởng công cho tâm hồn và cho cuộc đời chúng ta.

TÓM LẠI: chúng ta bỏ ra thì luôn muốn thu lại, thậm chí muốn thu lại hơn gấp nhiều lần, chứ ít ai trong chúng ta có được một lòng quảng đại chia sẻ cho những người nghèo khó. Chúng ta vẫn lấy tiêu chuẩn “công bằng kiểu làm ăn kinh tế” để đối xử với nhau, thì điều này chúng ta là Kitô hữu cũng chẳng hơn gì, vì người ngoại họ cũng làm được hơn cả chúng ta, bởi làm việc lành mà được đáp lại, nghĩa là đã được thưởng công rồi, nên chẳng còn công phúc gì trước mặt Thiên Chúa nữa cả…

 *******
Lạy Chúa!  Xin cho chúng con có thái độ biết mình thực sự, để nhận ra vị trí của Chúa trong cuộc đời con, để biết mình chỉ là dụng cụ của Chúa mà mau mắn thi hành nhiệm vụ Chúa trao và nhất là biết ký thác, trông cậy nơi Chúa, vì “Không có Thầy, anh em không thể làm gì được” và “xin Người hãy lớn lên, còn con thì nhỏ lại”. Tất cả cho vinh quang Thiên Chúa. Amen

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

THỨ SÁU TUẦN 30 THƯỜNG NIÊN

Rồi Người nói với họ: “Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sa-bát” (Lc 14, 5)

Luật lệ được đặt ra vì con người, con người phải là chủ thể vượt trên tất cả mọi lề luật. Bài Tin mừng hôm nay là một minh chứng, Đức Giê-su đã tháo cởi và dạy cho người ta biết yêu thương con người hơn là lề luật.

Đã có nhiều cuộc thăm viếng, nhiều tình huống, nhiều bất đồng xảy ra trong hành trình rao giảng của Đức Ki-tô và hôm nay khi đến dùng bữa tại nhà một thủ lãnh Phariseu Chúa Giê-su đã chữa lành một người bệnh phù thũng. Việc làm của Chúa Giê-su đã làm cho những người chứng kiến lấy làm khó chịu, vì đó là ngày Sabat, ngày không được phép chữa bệnh theo luật Do thái. Họ có vẻ không thuận tình với Đức Giê-su bằng thái độ im lặng của mình và họ cũng chờ cơ hộ để dò xét, tìm cách để bắt lỗi Đức Giê-su. Đức Giê-su đã không màng đến thái độ của họ, ngài đã ân cần chữa lành cho người bệnh, dù đó là ngày sabat. Vượt trên tất cả lề luật, Đức Giê-su hành động ngược lại với suy nghĩ của những người phariseu. Đức Giê-su đã hành động bằng tình thương, lòng trắc ẩn của một người mục tử trước những đau khổ của người khác. Đức Giê-su đi ngược lại với những người lệ luật, họ chỉ biết khư khư giữ luật mà không tỏ một chút thương cảm trước những đau khổ của người anh em mình.

Lợi dụng cơ hội này, Đức Giê-su đã giảng dạy cho những người Phariseu về tình thương, lòng bác ái. Người nói với họ: “Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con lừa sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sabat?” (Lc 14, 5). Ngày Sabat giúp con người nghỉ ngơi sau những giờ làm việc căng thẳng; ngày sabat cấm con người làm việc kiếm tiền, đây cũng là cách giúp người ta giảm bớt những ham muốn của cải vật chất. Ngày sabat không cấm người ta làm việc bác ái, thăm viếng người nghèo, an ủi người cô thân cô thế... mà ngược lại ngày này còn khuyến khích người ta gia tăng làm việc thiện, là thời gian giúp cho con người bồi bổ tâm linh. Đức Giê-su cũng khuyến khích và dạy con người lợi dụng những ngày này để làm tăng triển đời sống thiêng liêng; đồng thời mời gọi con người tuân giữ luật tình thương. Chính Chúa Giê-su biết rõ người ta đang dò xét Ngài nhưng chính vì chạnh lòng thương những người đau khổ bệnh tật, trước nỗi thống khổ của con người mà Đức Giê-su không màng đến thái độ dò xét của những người đang tìm cách hại người. Việc làm của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng hôm nay nói lên tình thương của Chúa trước những đau khổ của con người. Tình thương của Ngài đã vượt trên tất cả những luật lệ khắt khe do con người đặt ra, hơn nữa Chúa còn dạy cho những người Phariseu bài học về lòng bác ái, phê phán thái độ vụ lề luật của họ. Chúng ta hãy mặc lấy tinh thần của Chúa, sống yêu thương, quan tâm đến những người chung quanh, ân cần giúp đỡ những người đau khổ, những người đang cần đến tình thương và lòng quảng đại của chúng ta hơn là chỉ chú tâm tuân giữ luật lệ mà vô cảm hay nại đến luật lệ mà thoái thác trách nhiệm với anh chị em chung quanh.

Mỗi người Ki-tô hữu chúng ta cũng được cật vấn về lề luật. Chúng ta phải có thái độ nào trước những luật lệ trong cuộc sống, trước những kỷ luật của cộng đoàn. Ta có dò xét, chỉ trích một người nào đó vì lệ luật hay không? Trước những đau khổ và bất công ta phải có thái độ nào? Đôi lúc trong cuộc sống, chúng ta sốt sắng với công việc chung, chăm chăm chú chú làm việc nhân danh lề luật mà quên đi những anh chị em đau khổ quanh mình đang cần chúng ta giúp đỡ. Chúng ta luôn tuân giữ lề luật nhưng lại không sẵn sàng chia sẻ thời giờ, khả năng của mình với người khác.

*********

Lạy Chúa, mọi điều luật chỉ có giá trị cứu độ khi được tuân giữ với lòng yêu mến Chúa và tha nhân, xin cho chúng con luôn biết đến với Chúa với tâm tình cảm mến tri ân và đến với anh chị em với tấm lòng yêu thương. Đó mới là tinh thần của điều răn mới mà Chúa muốn nơi mọi người chúng con. Amen.

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN


Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm các thánh thông công, là sự hiệp thông mật thiết giữa ba thành phần Hội Thánh, BAO GỒM Hội Thánh Vinh Thắng, Hội Thánh Lữ Hành và Hội Thánh Thanh Luyện. Ngày hôm qua, trong sự tương giao, Hội Thánh Lữ Hành chúng ta hân hoan chia sẻ niềm vui và cảm tạ Chúa với Hội Thánh Vinh Thắng trên trời, thì hôm nay, chúng ta cùng hiệp thông cầu nguyện cho Hội Thánh Thanh Luyện là các đẳng linh hồn trong luyện ngục.

THÁNH LỄ I

Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. (Ga 6, 40)

Chúa Giêsu nói rõ cho chúng ta biết, ý Thiên Chúa Cha muốn mọi người chúng ta là tin vào Con Thiên Chúa, tức là tin vào Chúa Giêsu, để nhờ đó họ sẽ được mãi mãi chiêm ngưỡng thánh nhan Người và được sống lại trong ngày sau hết. Như thế, điều kiện tiên quyết để được cứu độ là phải tin và sống niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nên dù mặc nhiên hay minh nhiên, không qua Đức Giêsu Kitô thì không thể vào Nước Thiên Chúa. Sẽ khó trả lời khi nói điều này với người ngoài Kitô Giáo, nhưng hết những ai qua tôn giáo của họ hoặc qua tiếng lương tâm mà ăn ở tốt lành thánh thiện thì mặc nhiên ở trong Đức Kitô (được rửa tội “bằng lửa”). Cũng thế, những ai dám hy sinh tính mạng vì niềm tin hoặc vì Đức Ái, thì dù chưa được lãnh nhận bí tích rửa tội, thì cũng mặc nhiên ở trong Đức Kitô toàn thể (rửa tội “bằng máu”). Lại nữa, Ơn Cứu Độ của Chúa Giêsu mang tính vượt thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Như thế, dù tội lỗi như thế nào đi nữa, chúng ta không thất vọng, chúng ta chắc chắn sẽ được cứu độ vì đã tin vào Chúa Giêsu Kitô, miễn là chúng sống xứng đáng với niềm tin đó. Và đó cũng là tâm tình mà chúng ta dâng lên Chúa trong ngày hôm nay, để cầu nguyện cho các linh hồn.

******
Lạy Chúa, Chúa đã phán những ai tin vào Ngài sẽ chẳng bao giờ chết, xin Chúa đoái thương đến các linh hồn khi còn sống là những người đã tin vào Chúa, nay được hưởng phúc trường sinh muôn đời nhờ ơn Cứu độ và Lòng thương xót của Chúa. Amen.

THÁNH LỄ II

Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! (Lc 22, 42)

Bài Tin Mừng hôm nay chính là niềm hy vọng và khích lệ lớn dành cho chúng ta, là dù quá khứ chúng ta có đầy tội lỗi, nhưng chỉ cần một thời gian ngắn ngủi trở về với Chúa, thì tình thương hải hà của Chúa sẵn sàng tha thứ và nhận chúng ta vào Nước của Người. Tuy nhiên, để được vào Nước Chúa như người “trộm lành” kia, theo Chúa trong “giờ thứ 11”, nghĩa là giờ phút cuối cùng, vẫn cần ít nhất hai thái độ:

1.      Nhận ra con người tội lỗi của mình: Người trộm lành được cứu là vì anh ta đã ý thức tội lỗi của mình và đáng chịu phạt xứng với tội lỗi anh đã gây ra, đồng thời nhờ vào niềm tin vào Chúa Giê-su Ki-tô. Thật vậy, như lời thánh Phaolo dạy: “Chúa Giêsu đã chết để cứu chúng ta là tội nhân…” (Rm 5,8). Như thế, dù tội lỗi như thế nào đi nữa, chúng ta không thất vọng, chúng ta chắc chắn sẽ được cứu độ vì đã tin vào Chúa Giêsu Kitô, miễn là chúng ta dám tin và sống niềm tin đó.
2.      Tin và cầu xin với Chúa Giêsu Kitô: Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở sám hối mà thôi thì chưa đủ để được vào Nước Thiên Chúa, người trộm lành cần đến niềm tin nơi Đấng bị đóng đinh kia là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ. Đây là một đặc điềm của đạo Công Giáo chúng ta. Chúng ta không chỉ sám hối mà còn phải tin vào Tin Mừng là tin vào Chúa Giêsu Kitô (khác với Phật Giáo), không phải tự cứu mình bằng nỗ lực bản thân mà là cần kết hợp với ơn Chúa, hoàn thiện bản thân trong sự kết hợp với ơn Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô. Cũng không phải chỉ tin là đủ, mà phải hành động cụ thể là sám hối và tin và Tin Mừng.

Cùng hiệp thông cầu cho các tín hữu đã qua đời hôm nay. Chúng ta cùng biết ý thức về thân phận yếu đuối mỏng giòn của mình, đồng thời tin tưởng vào giá máu cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, sẽ giải thoát các linh hồn đang phải thanh luyện trong luyện ngục. Các đẳng từng, là những người như chúng ta, đã tin vào Chúa Giêsu Kitô, nhưng trong đời sống niềm tin đó còn thiếu sót, hoặc chưa có một sự sám hối đền tội cho đủ, nên bây giờ còn phải thanh luyện nơi luyện ngục. Thật vậy, chúng ta tin tưởng và cậy trông vào Thiên Chúa, nhưng không ỷ lại vào giờ phút chót, vì chúng ta không biết lúc nào Chúa gọi mình ra đi, nên cần luôn có một sự tỉnh thức và sẵn sàng.

*******
Lạy Chúa, Chúa đã hứa rằng: “ai xin thì sẽ được, ai gõ thì sẽ mở cho”, ngày hôm nay chúng con hiệp nhất cầu nguyện, và tạ ơn thay cho các linh hồn, xin Chúa đoái thương nhận những lời cầu xin chân thành của chúng con và đem các linh hồn về Thiên Đàng với Chúa. Amen.

THÁNH LỄ III

Trong thánh lễ III, Giáo Hội cho đọc đoạn Tin Mừng Gioan kể về việc Chúa Giêsu đến thăm gia đình Bêtania sau khi được tin Lazarô chết. Đoạn Tin Mừng này làm nổi bật lên ba bài học sau đây:
“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”: Chúa Giêsu Kitô là sự sống của linh hồn. Vì thế, khi chúng ta không ăn Bánh Sự Sống thì linh hồn chúng ta sẽ chết yểu và hư đi. Chúa Giêsu còn là sự sống lại. Chính Người là Đấng đầu tiên sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai tin vào Người và thông hiệp trong cái chết của Người sẽ được phục sinh như Người.

“Ai tin vào Thầy thì dù chết rồi thì vẫn sẽ được sống”: Hôm nay chúng ta dâng lễ và viếng nghĩa trang cầu nguyện cho các linh hồn, chính là vì chúng ta đang tin vào điều này. Các đẳng linh hồn vẫn sống vì đã tin vào Chúa Giêsu, nhưng còn mang ít nhiều vết nhơ của tội. Vì thế, lời cầu xin và việc dâng hy lễ của chúng ta là cậy nhờ dòng Máu Sự Sống của Chúa Giêsu đến giải thoát các linh hồn cho về hưởng sự sống vĩnh cửu.

“Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”: Lời này hướng đến chúng ta là những người đang còn hiện hữu trên trần gian. Vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô nên sẽ không sợ cái chết, cái chết thể lý chỉ là cửa ngõ đưa chúng ta về cuộc sống vĩnh cửu.

*********
Lạy Chúa, Chúa đã phán những ai tin vào Ngài sẽ chẳng bao giờ chết, xin Chúa đoái thương đến các linh hồn khi còn sống là những người đã tin vào Chúa, nay được hưởng phúc trường sinh muôn đời nhờ ơn Cứu độ và Lòng thương xót của Chúa. Amen. 

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ


Hôm nay Giáo Hội tôn kính tất cả các thánh, nếu một số trong các ngài đã được chính thức tôn phong hiển thánh để làm gương cho chúng ta, thì Giáo Hội cũng vẫn biết rằng còn có nhiều người đã từng sống trung thành với Tin Mừng và phục vụ tha nhân. Vì thế vào ngày lễ các Thánh Nam Nữ các Kitô hữu mừng kính tất cả các thánh, những vị đã từng được biết đến, cũng như những vị còn chưa được biết đến. Các ngài là những tiền nhân, trong đó có ông bà cha mẹ anh chị em chúng ta đã ra đi trước chúng ta. Các thánh đã từng sống kiếp người như chúng ta trong từng thân phận, hoàn cảnh, địa vị… Từ vua quan đến nô lệ, từ hoàng tước đến bần cố nông, từ ông chủ xí nghiệp đến công nhân thợ thuyền; từ giáo hoàng đến tín hữu, từ tu sĩ đến bậc sống gia đình, từ đồng trinh đến goá phụ… tất cả đã nên thánh ngay trong chính kiếp người và bậc sống của mình, biến những sự bình thường thành phi thường, thánh hoá đời sống thường nhật thành cuộc sống thiên thần, qua các mối phúc (được gọi là “Hiến Chương Nước Trời) mà Chúa Giêsu dạy qua bài Tin Mừng hôm nay: Qua Bát Phúc, cho thấy con đường nên thánh rất đa dạng và phong phú. Mỗi mối phúc là mỗi phương pháp ta có thể chọn để nên giống Chúa Giêsu và là một phương thế nên thánh. Những mối phúc này xem ra không hợp với những quan niệm của cuộc sống thông thường. Nhưng đó lại là một nghịch lý mà không vô lý. Nghĩa là trong khi thế gian chạy theo mọi thứ có giá trị tạm thời, thì người theo Chúa dám đi ngược dòng, là tìm những giá trị vĩnh cửu ngay trong những thứ trần thế ấy:  

- Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó. Là không lo tìm vật chất hưởng thụ và bị vật chất che khuất, để rồi lo chạy theo vì lòng tham và thủ đoạn mà lãng quên Nước Trời.

- Phúc thay ai hiền lành. Ngày nay sự ác đang tràn lan, đạo đức xuống cấp, dễ dàng giết người không nương tay, thì người theo Chúa biết khiêm nhu hiền hậu.

- Phúc thay ai sầu khổ. Biết kết hợp với đau khổ của Chúa kitô và dâng hết cho Người.

- Phúc thay ai khát khao nên người công chính. Nên thánh là một cuộc chiến đấu trường kỳ, một ước muốn mãnh liệt, một ý chí cao; phải ước muốn mãnh liệt chứ không phải chỉ là mơ ước. 

Muốn nghĩa là phải tiến tới hành động, phải thành công mới thôi:

- Phúc thay ai xót thương người. Là biết vui với người vui, khóc với người khóc, cảm thông với nỗi đau của tha nhân. Thay vì lo thu vén gom góp cho mình, người theo Chúa biết sống trao ban và chia cơm sẻ áo cho nhau.

- Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch. Giữa một thế giới xuống cấp về đạo đức luân lý, buông mình theo dục tính khoái lạc, thì người theo Chúa phải biết sống tiết chế, chừng mực và trong sạch.

- Phúc thay ai xây dựng hoà bình. Tránh sự gây gỗ hận thù và đem bình an đến cho nhau.

- Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính. Vì đức tin và lòng mến Chúa, dám làm chứng nhân trong mọi hoàn cảnh, dù đôi khi phải chịu thiệt thòi vì danh người có đạo.

Như thế, dù xem ra phải sống ngược đời và lội ngược dòng, nhưng nếu chúng ta thực thi với cái nhìn đức tin thì chúng ta sẽ tìm thấy hiệu quả đích thực trong cuộc sống. Nội dung của các mối phúc hướng chúng ta đến với Thiên Chúa và tha nhân, chứ không phải chỉ sống ích kỷ cho riêng mình. Nhờ sống vì Chúa và sống cho người khác mà chúng ta cảm nhận hạnh phúc thiêng liêng và đích thực. Lời kêu gọi của Chúa Giêsu đã trở nên lý tưởng phấn đấu cho biết bao tín hữu. Họ đã chiến thắng gian khổ, vượt lên những khó khăn để sống một cuộc đời thanh tao giữa vũng lầy tội lỗi. Phải: “ông này bà nọ nên thánh được, thì tôi cũng nên thánh được” khi tôi biết thực thi giáo huấn Tin Mừng qua Bát Phúc mà Chúa dạy hôm nay.

********

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn ý thức rằng, quê hương đích thực và vĩnh hằng của chúng con ở trên trời, để khi đang sống giữa cõi tạm thế gian này, chúng con luôn biết hướng vọng về quê trời vinh phúc, hầu chúng con không ngại khó ngại khổ mà sống trọn vẹn tám mối phúc thật Chúa đã dạy chúng con hôm nay. Amen.

Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

THỨ BA TUẦN 30 THƯỜNG NIÊN


Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được……Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men. (Lc 13, 19.21)

Trong vạn vật, vũ trụ có muôn vạn ức triệu tinh hoa sự sống rất nhỏ bé tầm thường nhưng khả năng và sức mạnh của nó thật phi thường. Đức Giê-su đã lấy một vài vật bình dị, điển hình trong cuộc sống làm ví dụ như hạt cải, nắm men để nói về sức mạnh và sự phát triển của nước trời. Như hạt cải là tinh hoa mầm sống của cây cải, nó chỉ như hạt tấm nhỏ nhưng lại có khả năng phát triển thành cây cải cao lớn (cây cải ở Palestine không phải như cây rau cải bé nhỏ bình thường ở Việt Nam, nó có thể cao tới 3m) làm nơi ẩn náu cho chim trời. Như hạt là tinh hoa của cây, tinh hoa của nước Thiên Chúa chính là tình yêu. Thật vậy, Ngôi Lời như hạt giống tình yêu được gieo vào lòng thế giới, và Lời tình yêu đó vẫn tiếp tục được rao truyền và vang xa mãi đến tận cùng trái đất. Quả thật, Nước Trời ban đầu thật bé nhỏ trên dưới vài chục người với Chúa Giêsu và các môn đệ quanh quẩn trong xứ Palestin nhỏ bé, nhưng trải qua lịch sử thăng trầm, đến bây giờ Hội Thánh có trên một tỷ người có mặt khắp nơi trên thế giới. Chức năng của Nước Trời, của Hội Thánh, của Dân Thiên Chúa là phải lớn lên và trở thành bóng mát cho đời, cho mọi người nương ẩn giữa bão táp mưa sa của cuộc đời:

-  Lớn lên:  Mọi thành viên trong “Nước Trời” là chúng ta đều có nghĩa vụ truyền giáo và sống chứng nhân để làm cho Nước Trời lớn mạnh. Xét về phương diện cá nhân, chính mỗi người chúng ta cũng phải lớn lên trong Đức Tin, trong Thánh Thần và trong đời sống đạo, từ đó làm cho Hội Thánh từ địa phương đến hoàn vũ cũng được lớn lên.

-  Bóng mát che chở: Nước Trời, Hội Thánh, Kitô hữu chúng ta phải là bóng mát cho đời, là nơi đáng tin tưởng cho mọi người tìm lại được an bình nội tâm. Chúng ta có bổn phận làm cho thế giới thêm bình an và xoa dịu mọi đau thương của nhân loại.

Lại nữa, như nắm bột men nhỏ người đàn bà vùi vào ba đấu bột – men ở trong bột thì người ta không thể nhìn thấy nó, nhưng nó lại có khả năng làm cho cả khối bột dậy men; thì nước Thiên Chúa cũng thế, ban đầu rất nhỏ bé nhưng vẫn âm thầm phát triển lớn mạnh và sự hiện diện của nước Thiên Chúa có khả năng làm biến đổi thế giới. Nếu ai đã từng xem cách thức ủ bột, ủ cơm hay ủ trái cây để làm rượu, thì sẽ không lạ gì về công dụng của men. Men là một loại chất xúc tác, hai công dụng của nó là: thấm nhập và biến đổi những gì men được trộn vào:

-  Thấm nhập: Chân lý Nước Trời, bản chất Hội Thánh là phải thấm nhập vào nhân loại và thế giới trong mọi hoàn cảnh và môi trường. Ngay nơi bản thân Kitô hữu phải chấp nhận được trộn lẫn vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, để nhờ đời sống chứng nhân, chúng ta sẽ giúp mọi thứ biến đổi theo Tin Mừng. Chứ không phải như cục men nằm yên sẽ chỉ là vô dụng.

-  Biến đổi: Chân lý Nước Trời là Lời Chúa, có sức biến đổi tâm hồn mọi người, từ đó biến đổi thế giới theo nền văn minh tình thương. Mỗi Kitô hữu được mời gọi sống chứng nhân, nghĩa là bằng đời sống đạo tốt lành của mình làm lay độn và biến đổi những tâm hồn nguội lạnh, cũng như có sức thu hút lương dân trở về với Chúa, để cả thế giới cũng được “dậy men” Tin Mừng.

 TÓM LẠI: Nước Trời được ví như Hội Thánh do Chúa Kitô thiết lập, là một sự tăng trưởng không ngừng và trở thành bóng mát cho mọi tâm hồn đến trú ẩn. Hội Thánh đó hiện diện mọi nơi trên thế giới để biến đổi thế giới và làm dậy men Tin Mừng khắp thế giới.  

********* 

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức về sứ vụ của mình là làm cho Nước Chúa ngày càng được lớn lên và thấm nhập được vào mọi nơi trên dương gian này. Amen.

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

THỨ HAI TUẦN 30 THƯỜNG NIÊN

Trông thấy bà, Đức Giê-su gọi lại và bảo: “Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!” (Lc 13, 12)
Trong truyền thống Do Thái, sabát là một ngày có ý nghĩa rất lớn ghi nhớ ngày thứ bảy trong cuộc sáng tạo của Thiên Chúa (Xh 31, 17). Ngày sabát còn nhắc nhớ biến cố dân Israen được giải thoát khỏi kiếp nô lệ Ai Cập (Đnl 5, 15) và hướng tới sự thành toàn viên mãn trong Trời Mới Đất Mới (Is 65, 17). Người Do Thái giữ luật ngày sabát rất chặt chẽ và tỉ mỉ.Trong ngày đó mọi người kể cả nô lệ đều được nghỉ ngơi, gác hết mọi việc đồng áng và chăm sóc gia súc, họ tới hội đường để cầu nguyện và nghe đọc Sách Thánh. Bài Tin Mừng Lc (13, 10-17 ) hôm nay thuật lại một phép lạ của Chúa Giêsu chữa người phụ nữ bị còng lưng, mà Ngài thực hiện việc này trong ngày ba-bát, một ngày cấm làm việc của người Do Thái. Điều này đả gây sốc và dấy lên nỗi tức giận cho giới lãnh đạo Do Thái, họ lên án trách móc dân chúng gay gắt: “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!”  (Lc 13, 14b). Nghe vậy Đức Giêsu liền giải thích cho họ biết đừng vì luật lệ mà không thi hành đức yêu thương bác ái đối với người khác. Đức Giêsu cũng tuân giữ ngày sabát và công nhận đó là ngày thánh, đồng thời Người hướng chúng ta đến giá trị thiêng liêng cao đẹp hơn, đó là ngày dành để thờ kính Thiên Chúa, Người nói: Ngày sabát có vì người ta chứ không phải người ta có vì ngày Sabát” (Mc 2, 27).  Khi khẳng định điều đó, Đức Giêsu muốn mọi người phải nhìn nhận quyền năng của Thiên Chúa vượt lên trên mọi luật lệ, lên mọi định kiến và sự hẹp hòi ích kỷ của loài người. Qua đó Đức Giêsu cũng cho biết sứ mệnh của Người là đến thế gian để cứu vớt những ai đang lầm than vất vả, đang mang gánh nặng nề của đau khổ và tội lỗi. Việc làm của Đức Giêsu đã giúp các môn đệ có một cái nhìn bao dung rộng lượng hơn. Bởi lẽ Đức Giêsu đã đến trần gian không phải chỉ cứu người Do Thái nhưng để cứu tất cả chiên lạc nhà Israel. Người đã đến không phải để cho người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và yêu thương mọi người. Với trọn tấm lòng yêu thương, Đức Giêsu có cái nhìn tinh tế, Người thấu hiểu nỗi khổ của người đàn bà bị bệnh suốt mười tám năm. Người đã vượt lên trên những rào cản của văn hóa dân tộc, của thói tham lam ích kỷ, vượt qua óc thành kiến và đố kỵ để giải thoát thân phận con người khỏi sự ràng buộc của đau khổ và tội lỗi.

Câu 14 nói lên thái độ và con người của ông Trưởng Hội Đường. Để tỏ ra uy quyền của người Trưởng Hội Đường nắm giữ và bắt người khác thi hành đúng luật, nên ông tỏ ra tức tối và lên tiếng nhắc nhở cả cho đám đông và Chúa Giêsu “ có 6 ngày phải làm việc, thì đến xin chữa bệnh trong ngày đó, đừng đến vào ngày Sa-bát” (Lc 13, 14b). Một giọng điệu nghe có vẻ là người tuân giữ lề luật, nhưng đây chỉ là lối giữ luật vụ hình thức, bởi nội dung sâu xa của luật vẫn là lòng bác ái đối với anh em đồng loại. Chúa Giêsu đã chữa cho người phụ nữ, giờ đây Ngài muốn chữa bệnh thiêng liêng cho ống Trưởng Hội Đường và các kẻ chống đối Ngài, Ngài lên tiếng: đạo đức giả ! Trong ngày Sa-bát, bò lừa còn được dẫn đi uống nước mà . Trong 2 câu 15 và 16, Chúa Giêsu đã dẫn chứng và đưa ra một lối so sánh rất ngoạn mục : một bên là con lừa, con bò, còn bên kia là một con người. Một bên chỉ để giải khát thân xác, còn bên kia là giải thoát cả về đời sống tinh thần. Tại sao các ông sẵn sàng thực hiện những công việc chỉ đáp ứng những nhu cầu thân xác của một con vật, mà lại tỏ ra cứng nhắc khi giải thoát cho một con người đã bị ma quỉ kiềm chế bấy lâu ? Tại sao các ông chỉ thấy sự cần thiết cho một thân xác của con vật, mà không thấy nhu cầu thiêng liêng của một con người? . Vậy mà các ông nhận mình là cha, là mẹ của dân sao?

Thật thế, các vấn nạn Chúa Giêsu đặt ra để ông Trưởng Hội Đường và các người theo phe ông nhận ra cốt lõi của luật. Trước hết và trên hết đó là lòng nhân ái. Nhiều khi chúng ta dùng luật mà xem thường hay xúc phạm vùi dập của con người. Câu 17 là câu kết luận của bài Tin Mừng những kẻ chống đối Chúa Giêsu phải xấu hổ còn toàn dân thì vui mừng”, đó là 2 thái độ của những người nghe Lời Chúa. Câu trả lời của Chúa Giêsu đã cho họ biết họ đang đứng ở vị trí nào trong Nước Thiên Chúa.

Thật trùng hợp khi ngày nay trong chúng ta, vẫn có khối kẻ sống nệ luật như ông Trưởng Hội Đường này. Chúng ta đã dùng luật Chúa và luật Giáo Hội để lên án tố cáo người khác, không đúng nơi, đúng lúc. Một cách không nhân nhượng, chúng ta dễ dàng thoải mái xét đoán khi không có thẩm quyền ấy và nhiều khi những lời tố cáo đó chỉ theo nhãn quan tình cảm của ta mà thôi. Như người Do Thái xưa đã dùng luật mà lên án Chúa Giêsu, ngày nay chúng ta cũng dùng chính Lời Chúa để kết tội người khác một cách vô tình hay hữu ý.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết soi mình vào tấm gương Lời Chúa để sửa mình, chứ không để tố cáo người anh em cách vô tội. Nếu phải buộc nói ra vì trách nhiệm, vì bổn phận… xin cho chúng con biết nói trong tinh thần bác ái, để lời nói của chúng con bây giờ sẽ không là lời kết án chúng con trước tòa Chúa sau này. Amen.

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN, NĂM A


Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. ….. ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.  (Mt 22, 37.39)

Ngày xưa, người Do Thái có hàng trăm khoản luật cấm và luật buộc phải làm, khiến cho nhiều người lúng túng không biết đâu là điều chính, đâu là điều phụ. Riêng các thầy thông luật trong câu chuyện hôm nay, có lẽ không phải vì họ không phân biệt được điều nào là quan trọng, mà là họ muốn đặt vấn đề để thăm dò quan điểm của Chúa Giêsu, khi thấy cách giảng dạy và lối hành xử của Chúa Giêsu hoàn toàn khác với các luật sĩ và biệt phái. Họ hỏi Chúa : Thưa Thầy, trong các giới răn, điều nào là trọng nhất ? Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su khẳng định lại hai giới răn quan trọng nhất và liên hệ không thể tách rời nhau là Mến Chúa – Yêu Người được nói tới trong Thập Điều. Thật vậy, Thập Điều được Chúa ban cho Môisen trên núi Sinai tóm gọn lại trong hai điều (mười răn ấy tóm lại hai điều này mà chớ…): ba điều trước tập chú về việc MẾN CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰ và bảy điều sau nói đến bổn phận YÊU NGƯỜI NHƯ MÌNH TA VẬY.

Với Chúa Giêsu, giới răn trọng nhất là giới răn yêu mến Thiên Chúa. Ngài đòi mỗi người phải dành cho Thiên Chúa một tình yêu cá vị, cụ thể và tuyệt đối. Tức là phải có một tình yêu riêng tư, cá nhân đối với Thiên Chúa, chứ không phải một tình yêu chung chung với mọi người. Tình yêu đó phải là một tình yêu cụ thể được thể hiện qua hành động, chứ không chỉ là lời nói trên môi, và còn phải là tình yêu tuyệt đối, phát xuất từ sự cảm nhận và đáp lại tình yêu của Thiên Chúa cách hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mình. Đó là một tình yêu trọn vẹn với hết khả năng con người, với cả sự hiểu biết, lòng muốn và cả trái tim. Tại sao Chúa lại đòi chúng ta một tình yêu tuyệt đối như thế, và con người có thể đáp lại cách tuyệt đối như vậy không ? Thiên Chúa mong muốn và đòi chúng ta phải yêu Ngài như thế, dù tình yêu của con người chẳng thêm gì cho Thiên Chúa, nhưng khi yêu mến Thiên Chúa, con người bày tỏ sự chấp nhận và vâng phục Ngài là Đấng Tạo dựng nên mình. Khi yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, con người không bị giảm giá trị, cũng không bị mất tự do. Trái lại, khi dành cho Thiên Chúa một tình yêu tuyệt đối, chúng ta sẽ đón nhận được tình yêu của Ngài thông chuyển cho chúng ta và đem đến cho chúng ta một sức sống viên mãn, hạnh phúc. Hơn thế nữa, vì chúng ta được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, mà thiên Chúa là Tình Yêu, nên khi chúng ta càng yêu thương, càng gắn bó với Thiên Chúa, chúng ta càng trở nên giống Thiên Chúa và tỏa sáng hình ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta. Ngược lại, nếu không yêu mến Thiên Chúa thì chúng ta tự làm cho hình ảnh của Thiên Chúa bị lu mờ và sức sống của Thiên Chúa bị sút giảm trong cuộc đời chúng ta.

Điều răn thứ hai Thiên Chúa muốn nơi chúng ta là : Hãy yêu người thân cận như chính mình, hay nói đúng hơn, Thiên Chúa muốn chúng ta thể hiện tình yêu đối với Ngài qua việc thương yêu những người thân cận. Người thân cận là ai ? Yêu như chính mình là gì ? Luật Do Thái giới hạn bổn phận phải yêu thương đối với những người đồng hương, đồng chủng. Đối với Chúa Giêsu, khi đòi hỏi phải yêu thương người thân cận, Chúa muốn gỡ bỏ tất cả những hàng rào giới hạn, để yêu thương không giới hạn, không điều kiện. Người thân cận Chúa Giêsu nói đến không chỉ là người bên cạnh, ruột thịt họ hàng, mà là tất cả mọi người mà chúng ta có dịp gặp gỡ. Người bên cạnh còn là những người chúng ta thích và cả những người chúng ta không thích, những người khó ưa hoặc những người không yêu chúng ta. Yêu như chính mình là yêu như thế nào ? Ai trong chúng ta cũng yêu mến bản thân mình, chăm sóc cho mình, muốn điều tốt đẹp nhất cho mình, cho gia đình mình, … Chúa muốn chúng ta lo cho mình như thế nào, yêu bản thân mình thế nào thì cũng biết lo, biết yêu, biết nghĩ tới anh em bên cạnh như vậy. Sách Xuất Hành đã chỉ cho cho chúng ta lý do tại sao phải yêu anh em như thế : Ngươi không được áp bức ngoại kiều, mẹ góa con côi, các ngươi đừng ức hiếp nó, vì Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu. Các ngươi cho người nghèo vay tiền thì đừng lấy lãi, cũng không được coi thường nó. Các ngươi phải trả lại cho người nghèo áo choàng nó đã cầm cố, vì nó chỉ có một chiếc áo để che thân, nó lấy gì mà đắp khi nằm ngủ ? Nó mà kêu đến Ta, Ta sẽ nghe tiếng nó. Vì Ta vốn nhân từ. Những lời cảnh báo ấy cho thấy lý do Chúa muốn mỗi người phải cư xử với người bên cạnh bằng tình yêu thương là vì Chúa là Đấng nhân từ. Chỉ khi chúng ta cư xử giống Thiên Chúa là Đấng nhân từ thì chúng ta mới được hưởng sự nhân từ của Thiên Chúa.

*********

Lạy Chúa, hành trình qua thập giá đến vinh quang mà chúng con đang bước theo Chúa không chỉ có tương quan hàng dọc với Chúa, mà còn phải được liên kết với thanh ngang của thập giá là tương quan với tha nhân, xin cho chúng con ý thức rằng chúng con chỉ thực sự yêu mến Chúa khi chúng con biết yêu thương tha nhân. Amen.