Translate

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

LỄ THÁNH GIOAKIM VÀ ANNA – SONG THÂN CỦA ĐỨC TRINH NỮ MARIA


 “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe” (Mt 13, 16)

Ca dao Việt Nam có câu: 
“Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn”.

Trong tinh thần ấy, hôm nay, phụng vụ Giáo Hội mừng lễ hai thánh Gioakim và Anna là thân phụ mẫu của Đức Maria và là ông bà ngoại của Đức Giêsu - Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Hai ngài, tuy âm thầm, nhưng lại là mắt xích không thể thiếu trong lịch sử cứu độ và góp phần làm cho dòng chảy ân sủng cứu độ của Thiên Chúa tuôn đổ trên loài người. Hai ngài đã sống cuộc đời thánh thiện và trung kiên trong niềm tin vào Thiên Chúa. Mừng lễ 2 thánh Gioakim và Anna cũng là dịp để mọi Kitô hữu -nhất là Giới Cao Niên- tìm hiểu về cuộc đời cũng như nhân đức của hai ngài mà noi gương bắt chước. Bài Tin Mừng vễ lễ song thân của Đức Mẹ chỉ có hai câu, nhưng bao hàm một ý nghĩa đặc biệt về các đấng thánh thiện này. Thánh Gioakim và Anna đã đạt được cái phúc cao quý là lắng nghe lời Chúa và làm cho lời Chúa được phát sinh. Thật vậy, chính hoa lòng của các ngài (khi sinh hạ Đức Maria) đã minh chứng điều đó.

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe” (Mt 13, 16): Đó chính là cái phúc mà Chúa Giêsu nhiều lần lặp lại cho thấy tầm quan trọng của việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Cái phúc được nghe và được thấy trước hết phải kể đến các môn đệ của Chúa Giêsu, các ngài là những “người bé mọn” và đơn sơ đón nhận, tin và đi theo Chúa Giêsu, các ngài có phúc hơn các ngôn sứ và những người công chính thời Cựu Ước đã không có được vinh dự được nghe và được sống với Đấng chính là Lời Thiên Chúa. Kế đến, cái phúc này dành cho những ai thấy, nghe và hiểu được Lời Chúa cũng như nhận ra ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống. Chúng ta ngày hôm nay có vinh dự được đọc, được nghe Lời Chúa hằng ngày trong Thánh Kinh và được hiểu qua lời giảng dạy của các đấng bậc trong Giáo Hội mà Chúa chọn để hướng dẫn chúng ta.

 Mối phúc “lắng nghe và thực hành Lời Chúa” thật cao cả và quan trọng, thậm chí Chúa Giêsu coi việc những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành trở nên như ngang hàng với Mẹ và anh em Người (x. Mt 12,49-50). Năng suy niệm Lời Chúa cho đến khi cảm nhận như Chúa động đậy trong tâm mình, thì khi đó thực sự Chúa đã ở trong ta và đang lớn lên. Khi có Chúa trong mình, thì mới có thể sống và hành động như Chúa Giêsu và luôn làm đẹp ý Cha trên trời.

*******

Lạy Chúa, xin cho chúng con được vào số những người mà Ngài cho là có phúc, tức là những người thấy, nghe và hiểu được Lời Chúa cũng như nhận ra ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống, để Lời Chúa được lớn lên trong tâm hồn chúng con và đơm bông kết trái là các công phúc việc lành, hầu đem nhiều linh hồn trở về với Chúa. Amen.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

LỄ THÁNH GIA-CÔ-BÊ TÔNG ĐỒ


Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mt 20, 28)

Hằng năm cứ đến ngày lễ kính thánh Gia-cô-bê tông đồ, thì Giáo Hội lại cho chúng ta nghe bài Tin Mừng kể câu chuyện chẳng mấy tốt đẹp của anh em con nhà ông Giê-bê-đê xúi mẹ “đi đêm” với Chúa Giêsu để được quyền cao chức trọng. Mặc dầu hai ông đã đi theo Chúa được một thời gian, nhưng họ vẫn chưa hiểu hết được tinh thần của Chúa, lối sống của Chúa, sứ mạng cứu độ của Chúa và tư cách của người môn đệ đích thực của Chúa cần phải có là những gì. Ngay cả các môn đệ khác khi nghe biết sự tính toán của hai ông Giacôbê và Gioan, họ cũng đã tỏ ra bực tức, ghen tị với hai ông. Các môn đệ khác tỏ ra tức tối, điều này có nghĩa là các ông có cùng một tham vọng. Lòng ham muốn lây lan, sinh sôi nẩy nở từ thủa ban đầu của sự sống con người (x. St 3) ; và chỉ có cây Thập Giá mới chữa lành được thôi. Thật vậy, từ ngày theo Chúa Giêsu, các môn đệ luôn mang trong mình tư tưởng quyền lực, mong đến ngày Thầy Giêsu lên ngôi để các ông được chia sẻ tước này chức nọ, các ông tranh luận ai sẽ được Thầy Giêsu cho làm quan to nhất trong Nước Trời. 

Trình thuật Tin Mừng kể lại chỉ trong vài dòng chữ, nhưng nói lên biết bao điều sâu kín. Chúng ta hãy nhìn ra lòng ham muốn đã tác hại như thế nào trong tương quan với Chúa và với nhau. Nhưng trước hết, chúng ta có thể so sánh hai ý muốn, hai cung cách và hai con đường: con đường của hai môn đệ và của mười ông còn lại một bên, và bên kia là con đường của Đức Giêsu. Thật vậy, Người gọi các ông lại và nói: Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. i. t 20, 25-27). Ngài nêu ra một cách thức thi hành quyền bính giữa các môn đệ hoàn toàn ngược hẳn với cách thức bình thường. Nếu để ý, chúng ta sẽ nhận ra rằng lời của Ngài rất triệt để: “ai muốn làm lớn…” ; “ai muốn làm đầu…”. Ngài không nói: “ai được đặt làm lớn; ai được đặt làm đầu”. Nhưng Đức Giêsu nói đến ý muốn, và ý muốn này đang có nơi tất cả các môn đệ và cũng đang có nơi tất cả chúng ta. Đức Giêsu không nêu ra một nguyên tắc suông, nhưng Ngài luôn luôn nói điều Ngài là, tương tự như những lời Ngài nói trong Bài Giảng Trên núi: Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. (Mt20, 28). Và điều Đức Giê-su ở đây muốn nói tới chính là lẽ sống của Ngài; phục vụ đối với Ngài không phải là một công trình phải cố thực hiện, nhưng phục vụ là lý do hiện hữu của Ngài. Vì thế, phục vụ và hiến dâng cũng phải là lẽ sống của chúng ta, theo gương của thánh Gia-cô-bê Tông Đồ mà chúng ta mừng kính hôm nay. Phục vụ và hiến dâng cũng phải là lẽ sống của chúng ta, bởi vì chính chúng ta đã được Chúa phục vụ trước và Ngài vẫn phục vụ chúng ta hằng ngày trong cuộc sống và trong Thánh Lễ. Hơn nữa, trong đời sống phục vụ, chính Chúa thúc đẩy chúng ta phục vụ, Ngài phục vụ với chúng ta và Ngài phục vụ trong chúng ta, như chúng ta vẫn tuyên xưng hằng ngày: “Chính nhờ Đức Ki-tô, trong Đức Ki-tô và với Đức Ki-tô”; và như lời thánh Phao-lô xác tín: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, nhưng Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20).

Có lẽ chúng ta không có “giấc mơ quyền bính” như các Tông Đồ khi xưa, nhưng chắc chắn chúng ta có những gắn bó và quyến luyến đi ngược với con đường Thập Giá của Đức Ki-tô. Vì thế, chúng ta được mời gọi luôn luôn soi mình vào Đức Giê-su chịu đóng đinh, cá nhân cũng như cộng đoàn, và để được Người biến đổi.

******

Lạy Chúa, xin cho mọi người chúng con biết đến với mọi người bằng tinh thần khiêm nhu và hăng say phục vụ vô vị lợi, để trong mọi sự Chúa được vinh danh. Amen.

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

THỨ HAI TUẦN 16 THƯỜNG NIÊN

Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này, (Mt 12, 42a)

Trong mọi thời đại, con người vốn có tính hiếu kỳ, vẫn luôn ưa thích những điều mới lạ. Trình thuật Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với một số kinh sư và biệt phái. Sau khi giảng về các mầu nhiệm Nước Trời, Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ, chữa bệnh cho một người bị bại tay (Mt 12, 9-14), chữa một người bị quỷ ám vừa mù lại vừa câm (Mt 12, 22). Dân chúng thấy vậy thì ngạc nhiên sửng sốt và tin theo, nhưng trong đó có một số kinh sư và biệt phái lại tỏ vẻ cứng lòng nên họ đến yêu cầu Người cho một dấu lạ để làm bằng chứng. Nhưng, câu trả lời của Chúa Giêsu vẫn là, đối với “thế hệ gian ác và ngoại tình”, sẽ chỉ có một dấu lạ duy nhất, dấu lạ Giôna. Đó là dấu lạ của hạt lúa phải thối đi, chết đi để có thể trổ sinh hoa trái. Vì thế, thay vì những hoạt động, những trình diễn “ngoạn mục” để thoả mãn tính hiếu kỳ, xin cho mỗi người chúng ta biết sống “dấu lạ Giona” là hoàn thành những cái “bình thường”, thậm chí “tầm thường” nhỏ nhoi, nhưng bằng một cách “phi thường”. Khi đưa ra câu chuyện về ông Giôna, Chúa Giêsu quở trách thái độ cứng tin của những luật sĩ và biệt phái. Xem ra dân thành Ninivê còn có phúc hơn vì họ khiêm tốn  nhận ra dấu chỉ của tình thương Thiên Chúa. Hình ảnh Giôna là một dấu lạ sống động về lòng thương xót của Thiên Chúa, Người không bao giờ đánh phạt nhưng giáo huấn sửa dạy để cho ta ăn năn sám hối và được sống.

Đức Giêsu chính là dấu lạ diễn tả trọn vẹn mạc khải và tình yêu của Thiên Chúa. Ngài đã đến thế gian và trở nên bằng chứng hùng hồn nhất về Nước Thiên Chúa. Hình ảnh dân thành Ninivê cũng diễn tả ơn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người. Đức Giêsu làm những phép lạ không phải để chiều theo tính hiếu kỳ và thói cứng lòng của con người trần gian nhưng để minh chứng sự hiện diện của Nước Thiên Chúa, báo hiệu một thời đại mới đang đến. Ngày ấy, con người không còn phải đau khổ, không còn chết chóc nhưng được sống dồi dào trong Thiên Chúa. Khi chứng kiến phép lạ, đôi khi chúng ta tỏ thái độ thờ ơ coi thường. Có khi chúng ta muốn Chúa thực hiện phép lạ theo ý riêng hạn hẹp của ta mà không vâng theo ý Chúa. Thật vậy, mỗi ngày Thiên Chúa đều ban những dấu lạ để ta nhận biết tình thương của Người. Dấu lạ ấy thể hiện qua cuộc sáng tạo kỳ diệu, qua thiên nhiên vũ trụ vạn vật, qua sự yêu thương chăm sóc của cha mẹ nơi gia đình, qua các bí tích và những ân ban riêng của mỗi người. Một nghịch lý đáng buồn là trong khi dân ngoại lãnh nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa còn dân riêng của Chúa thì không, bởi lẽ chúng ta hay có thái độ tự mãn không chịu lắng nghe lời dạy bảo của Chúa. Hình ảnh nữ hoàng Phương Nam từ vùng đến xa xôi đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salômôn cũng nói lên điều đó. Lời dạy bảo của Chúa còn cao trọng hơn cả Salômôn, thế mà loài người đã không để tâm lắng nghe. Trong thời đại hôm nay, Chúa vẫn không ngừng tỏ cho nhân loại những dấu lạ nhãn tiền. Dấu lạ ấy thể hiện qua những ân ban nơi Giáo Hội, qua sức sống mới nơi Chúa Thánh Thần khiến Giáo Hội lướt thắng được những cơn phong ba bão táp. Ở nhiều nơi Giáo Hội còn bị bách hại, nhiều người chưa được nghe Tin Mừng, thế nhưng Giáo Hội vẫn âm thầm chịu mục nát để khơi lên niềm hy vọng một mùa lúa trĩu hạt.

*****

Lạy Chúa, mỗi ngày chúng con vẫn được nghe Lời Chúa qua mọi phương tiện từ các trang tin công giáo đến cuốn Thánh Kinh trong gia đình, đặc biệt được nghe Lời Chúa và được nghe lời rao giảng trong các Thánh Lễ, nhưng có lẽ chúng con chưa thực sự để cho Lời Chúa thấm nhập và biến đổi chúng con. Xin cho chúng con biết tận dụng mọi phương thế có được để tiếp xúc với Lời Chúa hằng ngày, hầu được Lời Chúa biến đổi nên xứng đáng là một Kitô hữu thánh thiện. Amen.

CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, những câu chuyện hay xảy ra trong cuộc sống của người Do thái để trình bày cho họ dễ hiểu về những điều Ngài muốn đề cập tới. Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng ba dụ ngôn để nói về Nước Trời: dụ ngôn Cỏ Lùng; dụ ngôn Hạt Cải;dụ ngôn Men Trong Bột; Những dụ ngôn Chúa Giêsu sử dụng để giảng dạy ở đây rất thực tế, rất đơn giản và giúp cho người nghe dễ hiểu, dễ nhớ và có khi cũng dễ liên tưởng đến những gì người ta cần tìm hiểu. Một trong ba dụ ngôn Chúa Giêsu dùng trong bài Tin Mừng này để nói về Nước Trời là dụ ngôn “Hạt cải”. Từ những hạt cải nhỏ bé nhưng khi gieo xuống đất đã mọc lên thành cây to lớn, chim trời đến trú ẩn và làm tổ dưới bóng, để nói lên sức mạnh nhiệm mầu của Nước Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn hạt cải để nói về Nước Trời, có lẽ Người đã không chủ ý ví hạt cải như Nước Thiên Chúa, nhưng Người ví Nước Thiên Chúa sẽ lớn mạnh như sự phát triển của hạt cải. Từ một hạt cải nhỏ xíu nhưng khi gieo xuống đất, nó phát triển mạnh mẽ thành một cây to lớn, thành một nơi trú ẩn vững chắc và là nơi làm tổ an toàn cho chim trời. Đó cũng chính là sứ điệp của Chúa Kitô, là công cuộc cứu chuộc của Ngài, và trở thành sức sống, sự cứu rỗi cho mọi người.

Ngoài ra, dụ ngôn cỏ lùng còn cho biết trong các công việc của Nước Thiên Chúa, vẫn có xen lẫn những công việc của ma quỷ, mà trong giai đoạn sống ở trần gian, nguời ta không thể nào triệt bỏ hết được, chỉ đến ngày tận thế sự phân định mới rõ ràng. Vì thế, dụ ngôn cỏ lùng có mục đích diễn tả lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa, Ngài chấp nhận tốt xấu pha trộn, đợi đến ngày cuối cùng Chúa mới lấy quyền phân xử. Trong trần gian cũng như trong Giáo hội luôn có những người xấu  sống bên cạnh những người tốt, cái thiện và cái ác lẫn lộn. Ánh sáng và bóng tối trong thế giới ta đang sống, thiện và ác trong lòng mọi người, đó là cánh đồng lúa mì mà trong đó cỏ lùng mọc lẫn lộn bên cạnh cây lúa tốt. Còn đối với con người, xấu tốt ở xen lẫn với nhau, vàng thau lẫn lộn, không phân biệt được tốt xấu, hoặc đôi khi đánh giá lầm mà coi người tốt ra người xấu, hoặc người xấu ra người tốt. Thiên Chúa cho kẻ lành người dữ sống chung với nhau, cũng như cho cỏ lùng và lúa cùng mọc lên, đến ngày tận thế Thiên Chúa mới phân xử, mới tách biệt chiên ra khỏi dê, người lành khỏi kẻ dữ. Trong khi chờ đợi ngày phân xử, chúng ta được mời gọi yêu thương mọi người, nhất là tạo điều kiện cho những kẻ tội lỗi biết sám hối trở về đường lành, còn việc xét xử thì dành cho Thiên Chúa. Trong Hội thánh và nơi mỗi người có một sự pha trộn thánh thiện và tội lỗi, thiện và ác  đó là điều không tránh được. Hội thánh là thánh thiện tự bản chất, nhưng Hội thánh cũng có những con người yếu đuối và tội lỗi, và chúng ta,  mặc dầu đã nhận nhiều ân sủng qua phép Rửa tội cũng có khuynh hướng phạm tội. Như thế, qua dụ ngôn này, chúng ta đừng có ảo tưởng là có thể có một Hội thánh hoàn hảo ở trên trần gian này, trong đó chỉ toàn những người thánh thiện. Trái lại, kẻ lành người dữ sống chung với nhau. Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi cho kẻ dữ biết ăn năn sám hối để được tha thứ.

TÓM LẠI: Nước Trời được ví như Hội Thánh do Chúa Kitô thiết lập, là một sự tăng trưởng không ngừng và trở thành bóng mát cho mọi tâm hồn đến trú ẩn. Hội Thánh đó hiện diện mọi nơi trên thế giới để biến đổi thế giới và làm dậy men Tin Mừng khắp thế giới. Nhưng Hội Thánh đó tuy có biết bao người tốt lành thì vẫn tồn tại những cá nhân tội lỗi núp bóng Hội Thánh. Đó là một sự thanh luyện trường kỳ làm cho Hội Thánh ngày càng hoàn thiện hơn cho đến ngày được viên mãn trong Chúa Giêsu quang lâm.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức về sứ vụ của mình là làm cho Nước Chúa ngày càng được lớn lên và thấm nhập được vào mọi nơi trên dương gian này. Xin cũng cho chúng con biện phân được sự thiện ác cùng tồn tại ngay trong chính thân phận làm người của chúng con và ngay trong Hội Thánh Chúa, để chúng con cùng cộng tác với Chúa mà kiên nhẫn và giúp những tội nhân hoán cải trở về với Ngài. Amen.

Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

LỄ THÁNH NỮ MARIA MA-ĐA-LÊ-NA (MÁC-ĐA-LA)

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa’ và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. (Ga 20,18)

Có thể nói, hai giác quan giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận thông tin là thị giác và thính giác (mắt và tai). Mắt và tai tiếp nhận rồi truyền vào tri thức và trái tim để biện phân và đặc biệt là giúp hồi tưởng về ký ức. Hai sự tiếp nhận này có phần không giống nhau giữa hai phái nam và nữ, vì như người ta thường nói: “Mắt con trai, tai con gái”. Đàn ông thường yêu bằng cái nhìn về bạn đời, nhưng phụ nữ lại thích nghe những lời nói yêu thương hơn…Lần lượt các tường thuật về biến cố Phục Sinh, các Tin Mừng cũng làm lộ rõ hai khả năng tiếp nhận và cảm nhận về Đấng Phục Sinh dựa theo hai giác quan là thính giác và thị giác. Cụ thể là mắt các ông môn đệ nhận ra Đấng Phục Sinh khi thấy Người bẻ bánh và dâng lời tạ ơn; còn chị em thì nghe Thầy gọi tên thật thân thương là nhận ra ngay và ôm lấy chân Thầy.

Trong ngày mừng lễ thánh nữ Maria Mácđala hôm nay, Giáo Hội cho đọc bài Tin Mừng kể chuyện Maria Mácđala, có lẽ vì quá đau đớn vì Thầy đã chết và khóc quá nhiều nên mắt hoen mờ, nên đã không nhận ra Đấng Phục Sinh, thậm chí còn tưởng là người làm vườn. Tuy nhiên, với lời gọi thân thương: “Maria!!!” Cô đã không thể lầm được nữa, cô nhận ra Thầy ngay và ôm quàng lấy chân Thầy rồi thốt lên lời thân thương mà cô từng gọi Thầy biết bao lần trước đây: “Thầy!!!”. Từ việc nghe đã tác động lên ký ức giúp hồi tưởng lại, Maria Mácđala đã cảm nhận được tiếng nói của Thầy những lần ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe, và được nghe Chúa gọi tên nhiều lần trong những tháng ngày theo Chúa. Giờ đây, dù lúc đau thương không còn đủ tỉnh táo, mắt thể lý bị hoen mờ vì khóc quá nhiều, nhưng tiếng nói đầy yêu thương của Thầy thì Maria Mácđala không thể lầm vào đâu được. Vậy bà là ai ? Bà là người phụ nữ được Đức Giêsu trừ khỏi bảy quỷ (Lc 8, 1-3). Điều này làm cho chúng ta hiểu tại sao bà gắn bó với Đức Giêsu đến như vậy ; bà gắn bó với Thầy của mình trong những lúc thử thách nhất, bi đát nhất và đen tối nhất ; bà gắn bó với Thầy khi Thầy chẳng còn là gì hơn là một thân xác nát tan. Đặc biệt, bà là cầu nối giữa Đức Ki-tô chết và phục sinh với các môn đệ. Thật vậy, bà đi ra mộ; rồi bà chạy về báo cho Phêrô và Gioan (Ga 20, 2); bà lại chạy ra cùng với hai ông (Ga 20, 11); hai ông trở về nhà; còn các ông khác thì một số sợ hãi ẩn mình, một số khác chán nản bỏ cuộc; chỉ có một mình Bà Maria Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Và sau khi được Đức Ki-tô cho nhận biết, bà được trao sứ mạng trở về loan báo Tin Mừng, không phải cho muôn dân ngay tức thì, nhưng trước hết cho chính các anh em của Ngài, nghĩa là cho các tông đồ và các môn đệ, nghĩa là cho các đấng các bậc! Vì thế, Truyền Thống Giáo Hội tặng cho thánh nữ danh hiệu Tông Đồ của các Tông Đồ. Sứ mạng này vẫn còn được Đức Kitô phục sinh trao cho các phụ nữ hôm nay, trong đó một cách rất đặc biệt cho các nữ tu!

Như vậy, chủ ý của việc tường thuật biến cố Phục Sinh trong Thánh Lễ hôm nay, các tác giả Tin Mừng đã cho chúng ta nhiều cái nhìn để củng cố đức tin qua nhiều cách tiếp thu và cảm nhận của cả hai phái nam và nữ. Đấng Phục Sinh đã dùng chính cách tiếp thu giới hạn của con người mà cho họ được biết Người, rồi từ đó họ đi rao giảng - làm chứng về những gì mắt thấy tai nghe và lòng cảm nhận. Tóm lại, nghe và thấy đều thuộc dấu hiệu khả giác của bí tích. Bí tích có mô thể và chất thể -lời đọc và cử chỉ- cả hai chuyển tải Đấng Hiện Diện trong bí tích được trao ban cho thụ nhân. Hiệu quả tròn đầy của bí tích phụ thuộc nhiều ở lòng yêu mến. Hôm nay Maria Mácđala là một bằng chứng cho sự yêu mến đó, và cô đã được gặp chính Đấng Phục Sinh là đối tượng mà lòng cô khao khát và yêu mến.

****** 

Lạy Chúa, có lẽ không ít người trong chúng con chưa thực sự gặp được Đấng Phục Sinh nên tâm hồn chúng con chưa được đổi mới, bởi vì chúng con chưa đủ khao khát và lòng mến của chúng con dành cho Chúa chưa thật mặn nồng. Xin Chúa ban cho chúng con một con tim hết lòng khao khát và yêu mến Chúa hơn. Amen.

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017

THỨ SÁU TUẦN 15 THƯỜNG NIÊN


Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội.  (Mt 12, 7)

Mở đầu bài Tin Mừng chỉ vỏn vẹn trong một câu mà thánh sử đã giới thiệu về: thời điểm “ngày sabát”, về các nhân vật “Chúa Giêsu và các môn đệ”, về địa thế “một cánh đồng lúa”sự kiện “đói, bứt lúa ăn”. Cùng một vấn đề mà Chúa Giêsu và người Pharisiêu có những quan điểm đối nghịch. Người Pharisiêu nói với Chúa Giêsu “ các môn đệ của ông đã làm điều không được phép”, nghĩa là: các ông ấy đã vi phạm luật; phần ông là thầy của họ, ông đã không dạy đồ đệ của mình giữ luật cho thật tốt. Họ kể cho Chúa Giêsu nghe lỗi của các môn đệ nhưng đồng thời muốn “dằn mặt” ông thầy về việc tuân giữ luật lệ tổ tiên. Vào lúc này, Chúa Giêsu mới mở tâm trí cho họ hiểu ý nghĩa những điều đã viết trong Sách Thánh, sách mà họ đọc hàng ngày, sách mà họ đeo nơi tua áo, mang vác trên người “các ông chưa đọc trong sách sao? Ông Đavít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng?”. Chúa Giêsu đã dẫn chứng một trường hợp cụ thể, rất gần với hiện trạng đói bụng của các môn đệ. Người nói : “Đavít vào nhà Thiên Chúa và cùng thuộc hạ ăn bánh tiến, thứ bánh chỉ dành riêng cho tư tế mà thôi”. Thật thế, do lòng nhân từ của Thiên Chúa, Ngài không thể chịu được nỗi khốn cùng của kẻ Ngài tuyển chọn. Họ ăn bánh tiến, họ đã bứt lúa, chỉ vì... họ đói. Ở đây, Chúa Giêsu thể hiện gương mặt Thiên Chúa nhân từ, Người muốn trở nên giống anh em mình trong mọi sự, để cảm nghiệm sự khốn cùng của kẻ mà Người cứu vớt. Vì thế, lời nói và dẫn chứng của Người cũng là cách phô diễn lòng nhân từ của Thiên Chúa, mà đối tượng Chúa ưu đãi luôn là người nghèo. Như thế, tình thương Chúa lan tràn và bao trùm mọi người, không phân biệt, không loại trừ và ơn cứu độ tuôn đổ dồi dào trên khắp mặt đất. Thật vậy, khi ban bố lề luật, Thiên Chúa muốn sự yêu mến và tự nguyện, nhưng dần già, được giải thích quá tỉ mỉ đến cả những chi tiết nhỏ nhặt, để rồi, các tiến sĩ - kinh sư - biệt phái thì sinh ra vụ luật và dùng luật làm thứ bình phong che chắn và làm lợi cho họ, còn dân chúng thì cảm thấy nặng nề, để rồi thay vì yêu mến và tự nguyện, họ chỉ giữ vì buộc phải giữ và luật trở thành gánh nặng đè trên vai họ. Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy việc Chúa Giêsu vạch trần sự giả hình của họ, ngày Sa-bát mọi người đến nghe Lời Chúa thì họ đến với ý đồ xấu nhằm để hại người. Luật đối với họ sẵn sàng ném đá chết một người lượm củi nấu ăn, không dám đi đường cấm dù cấp bách liên quan đến sự sống cần cấp cứu. Họ coi việc giữ những điều lặt vặt hơn là mạng sống của một con người.

ÁP DỤNG LỜI CHÚA VÀO CUỘC SỐNG NGƯỜI KITÔ HỮU :

Chúng ta cố gắng tuân giữ lề luật, nhưng cần tránh việc giữ luật vụ hình thức, giữ tỉ mỉ bên ngoài. Chẳng hạn : Ăn chay thì cố gắng nhịn ăn đến nửa đêm thì ăn bù lại; vào nhà thờ thì cúi mình hết sức sâu; đọc kinh thì rất lớn tiếng để cho mọi người biết tôi đọc kinh, nhưng làm những điều ấy chẳng có tâm tình yêu mến.

Luật được lập nên để giúp và hướng dẫn con người sống tốt hơn. Chúa Giêsu không bãi bỏ lề luật nhưng Ngài kiện toàn, nghĩa là giúp con người sống đúng tinh thần của luật, đó là hướng dẫn con người sống tốt hơn, sống theo luật với tấm lòng yêu thương. Rất nhiều người trong chúng ta giữ đạo rất tốt, giữ luật nghiêm ngặt, nhưng chúng ta dễ mắc sai lầm không khác gì những người biệt phái xưa : khinh dễ và phê bình những anh chị em sống đạo khô khan, nguội lạnh, vì thấy họ chưa tốt như chúng ta.

TÓM LẠI: sống đạo tốt là tuân giữ luật Chúa, luật Hội Thánh, nhưng phải xuất phát từ bên trong, tâm tình yêu mến Chúa nhiều hơn. Sống đạo còn thể hiện qua đời sống yêu thương nhau, phục vụ nhau. Cần tránh thái độ khinh chê, phê phán người khác, nhưng hãy tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, sống tốt với nhau.

********
Lạy Chúa, mọi điều luật chỉ có giá trị cứu độ khi được tuân giữ với lòng yêu mến Chúa và tha nhân, xin cho chúng con luôn biết đến với Chúa với tâm tình cảm mến tri ân và đến với anh chị em với tấm lòng yêu thương. Đó mới là tinh thần của điều răn mới mà Chúa muốn nơi mọi người chúng con. Amen.

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

THỨ NĂM TUẦN 15 THƯỜNG NIÊN


Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.(Mt 11, 28)

Thường tình khi gặp gian nan thử thách buồn phiền, con người hay tìm giải sầu cách tự nhiên trong men rượu, cà phê, thuốc lá, hay tệ hơn nữa là trong xì ke ma túy, nhưng cũng có một cách thanh tao hơn để con người giải sầu là tìm đến bạn hữu chân tình để tâm sự cho vơi đi những nỗi buồn phiền. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu giới thiệu cho mọi người Kitô chúng ta một phương thế siêu nhiên để vượt qua những thử thách, buồn phiền, để được an bình tươi vui trong tâm hồn, đó là đến với Chúa: “Hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”. (Mt 11, 28b, đến với Chúa để ta học lấy cách sống của Ngài; đến với Chúa để ta sống như Ngài giảng dạy; đến với Chúa để ta đón nhận tình thương của Chúa: vì Chúa là nguồn an ủi, vì Chúa là nguồn tình yêu. Đó là một lời kêu gọi, một lời nhắn nhủ, một lời khích lệ đầy an ủi và phấn khởi Chúa Giêsu nói với tất cả và từng người chúng ta. Thật vậy, ở đời này có nhiều gánh nặng: gánh nặng bản thân, gánh nặng gia đình, gánh nặng xã hội, gánh nặng của bệnh tật, thất bại, mất mát, hiểu lầm của tình người và tình đời. Đã gọi là gánh nặng thì phải vất vả gánh vác: vất vả với cuộc mưu sinh, vất vả đêm ngày, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt đổi lấy miếng ăn, thế mà có khi vẫn không đủ sống; vất vả sớm tối với bầy con, vất vả khi chúng còn nhỏ bé, vất vả khi chúng đã khôn lớn, nhất là khi chúng hư hỏng, quậy phá. Ngoài ra, “gánh nặng” còn được hiểu là những đau khổ của đời người. Đời người sống giỏi lắm là trăm năm, nhưng thử hỏi có ai là không đau khổ chăng? Ai cũng có những đau khổ riêng mình: người trước người sau, người ít người nhiều, người tinh thần người thể xác, người đi tu hay sống đời gia đình… không ai dám nói đời mình không có đau khổ. Cuộc đời trần gian là thế. Còn ách và gánh của Chúa muốn ta mang vác, đó chính là giáo huấn của Ngài, mà giáo huấn của Ngài là giáo huấn được đặt trên nền tảng của hai chữ yêu thương. Bởi đó ai học với Ngài và sống theo luật yêu thương của Ngài thì sẽ cảm thấy êm ái và nhẹ nhàng. Lòng yêu thương này Ngài mời gọi chúng ta cùng chia sẻ với Ngài. Do đó,  những lúc vất vả, khó khăn, đau khổ càng nhiều và càng nặng, chúng ta càng phải đến với Chúa mau hơn và nhiều hơn. Hãy đến với Chúa để cảm nhận được sự nâng đỡ và bổ sức của Chúa. Vậy khi Chúa Giêsu nói đến: “Ách của Chúa êm ái, gánh của Chúa nhẹ nhàng” thì điều đó không có nghĩa là gánh nặng dễ mang, nhưng phải hiểu thế này: khi gánh nặng được đặt trên vai chúng ta trong tình yêu, được mang trong tình yêu, và vì tình yêu thì gánh nặng sẽ trở nên nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng.

Như vậy, sứ điệp Lời Chúa hôm nay giúp ta một lần nữa, cảm nhận tự đáy lòng mình tình yêu thương vô bờ và sâu nặng của Thiên Chúa, qua Con Một Người. Chúa Giêsu đến trần gian không phải để phô trương, cũng không ăn thua đủ với những kinh sư biệt phái thời Ngài. Ngài đến bằng tình yêu và đi trên con đường khiêm hạ. Tình yêu giúp Ngài luôn hướng trọn trái tim cho người nghèo, cho những người phận nhỏ. Sự khiêm hạ cho Ngài sức mạnh giúp những mảnh đời khốn khổ vươn cao, vươn xa trong Sự Khôn Ngoan đích thực, để đạt đến Hạnh Phúc Vĩnh Cửu.

******
Lạy Chúa! Xin cho chúng con tin tưởng bám vào Chúa, đến với Chúa để học với Chúa và mang ách của Chúa, vì chúng con muốn được Chúa cho nghỉ ngơi bồi dưỡng, muốn sống cuộc sống nhẹ nhàng trong Luật yêu thương của Chúa. Cũng xin cho chúng con một khi đã nếm cảm được hạnh phúc trong Chúa, chúng con cũng biết cùng Chúa hướng lòng về những anh chị em khác đang đớn đau nơi thể xác, khốn khổ trong tâm hồn và bế tắc trên đường tìm Hạnh Phúc Thật, để tất cả được vui sống trong Chúa. Amen.