Translate

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

THIÊN CHÚA KHÁT

Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa xuống thế làm người đến chia sẻ thân phận làm người với chúng ta. Ngài sinh ra trong nghèo khó, người cảm thông với kẻ bệnh tật, chia sẻ bánh-cá với đoàn lũ dân chúng bơ vơ đến nghe Ngài giảng dạy. Chính người đã đồng hóa mình nên người nghèo, người yếu đau tù đày: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40) Làm người thực cho nên Ngài cảm nhận được cái đói sau khi chay tịnh 40 đêm ngày trong hoang địa. Ngài cảm nhận được sự mệt nhọc, đói khát trong hành trình sứ mạng cao cả của mình. Và cũng chính từ những nhu cầu rất bình thường như bao người khác Ngài đã đến ngồi bên bờ giếng tại Sy-Kar nghỉ mệt và xin nước uống trong lúc chờ các môn đệ vào thành mua thức ăn.


Nước mà Ngài xin người phụ nữ không biết Ngài có uống? Còn lương thực các môn đệ đem về Ngài không dùng. Ngài đã dùng một thứ lương thực khác đó là “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Ý muốn của Chúa Cha là Cứu độ con người qua cái chết trên thập giá và phục sinh của Ngài. “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12,49-50)

Phép rửa là cuộc thương khó của Chúa Giê-su đã hoàn tất nhưng Ngài vẫn nói: “Ta khát!” trước cái chết trên thập giá. (Ga 19,28b) Cơn khát của Ngài vẫn còn đó triền miên khi con người vẫn chạy theo những khát vọng khác để mong tìm ra giải pháp và đấng cứu độ cho mình. Cơn khát đó càng cháy bỏng hơn khi con người không muốn đón tiếp Ngài như người phụ nữ Samaria lúc mới đầu gặp gỡ. Con người đang muốn loại trừ sự can thiệp và hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình. Sự loại trừ này khởi từ ý thức sâu xa trong tâm hồn đến những hình ảnh tôn giáo bị tháo xuống khỏi nơi công cộng.

Làm người ai cũng có những khát khao, ước vọng của mình. Người phụ nữ Samaria là điển hình cho nỗi khát vọng của mỗi chúng ta. Chỉ khi gặp được Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ trần gian chúng ta mới được giải khát. “Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga,14).

Trong mùa chay này chúng ta hãy điều chỉnh những khát vọng của mình. Hãy ra công làm việc vì của ăn thường tồn, (x Ga 6,26-27) và biết tiết chế những nhu cầu của bản thân để có thể cho anh em bé mọn dù chỉ là bát nước lã. (Mt 10, 42)

Chúa Giê-su vẫn tiếp tục bước đi trong hành trình tìm kiếm và gặp gỡ con người. Ngài vẫn đang đi bước trước mở lời xin nước từ nơi mỗi chúng ta. Ước mong cho mỗi chúng ta cũng được may mắn như người phụ nữ và người dân Samaria là gặp được Đấng Cứu độ trần gian.

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA



Mùa Chay mời gọi chúng ta sám hối ăn năn để dọn đường cho Chúa 

“Có tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt xuống cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho bằng”. (Lc 3,4-5)

Tiếng kêu trong hoang địa đòi hỏi phải chuẩn bị sẵn một con đường, con đường trong nơi hoang dã. Tiếng kêu này đến với riêng tôi. Tôi phải lắng nghe lời Thầy dạy bảo, mở con đường đi vào tâm hồn tôi bằng ân sủng của Chúa, qua sa mạc hoang vu của bản chất tôi.

Ta để ý đến bốn mệnh lệnh:

- Mọi thung lũng phải lấp cho đầy. Những ý nghĩ nông cạn về Chúa phải bỏ đi. Những nghi ngờ và tuyệt vọng phải đẩy lùi. Những việc bon chen và các thú vui xác thịt phải dẹp hết. Ngang qua những thung lũng sâu này, một con đường ân sủng sẽ được xây đắp lên.

- Mọi núi đồi phải bạt xuống cho thấp. Kiêu ngạo, tự mãn, khoe khoang phải được hạ xuống để mở đường cho Vua các vua. Mối tương giao với đấng thiêng liêng không bao giờ ban cho kẻ độc ác, tự cao tự đại. Chúa tôn trọng kẻ khiêm nhường và thăm viếng những ai có tâm hồn ăn năn thống hối. Còn kẻ tự tôn Chúa sẽ hạ xuống. Hãy cầu xin Thánh Linh sửa ngay lại tâm hồn bạn theo chiều hướng này.

- Mọi khúc quanh co phải uốn cho ngay. Tâm hồn nào nhấp nhô như sóng biển phải được sửa lại cho ngay. Phải vững niềm tin nơi Chúa và sự thanh khiết của Ngài. Những người nửa tin nửa ngờ rất xa lạ đối với chân lý của Chúa. Tâm hồn chúng ta phải chân thành trong bất cứ hoàn cảnh nào, và lúc nào cũng phải như đứng trước mặt Chúa...

- Ðường lối lồi lõm phải san cho bằng. Những vật cản tội ác cần phải dẹp đi. Những gai góc nổi loạn cần phải được nhổ tận rễ. Có như thế, khi Ðấng Thánh viếng thăm mới không vướng vào những hòn đá hay mắc phải những gai nhọn. Ngài sẽ vào bằng con đường sạch sẻ, dễ đi, và sẽ vào nhà ta, tâm hồn ta. Hân hạnh thay, Chúa vào tâm hồn ta, khi tất cả những chướng ngại đều bị dẹp bỏ hết.

NƯỚC HẰNG SỐNG....! (tt)



Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 5, 13-14)

Chia Sẻ:

Đức Giêsu gặp người phụ nữ bên bờ giếng nước. Người phụ nữ nhìn Đức Giêsu bằng ánh mắt khinh miệt.

Dưới mắt chị, đó chỉ là một gã Do Thái bẩn thỉu. Còn tệ hơn thế, anh chàng Do Thái này nghèo mạt rệp, đang đói khát, mệt mỏi rã rời, chỉ chờ chực xin ăn, xin uống.

Chị hợm mình, vì chị có tất cả. Chị có giếng nước của tổ tiên. Đối với người Samari, có nước là có tất cả. Ở giữa vùng sa mạc mênh mông, nơi nào có nước, nơi ấy có sự sống. Vì nhờ có nước, cây cỏ mọc lên xanh tươi, gia súc có lương thực, con người mới sống được. Ai chiếm được nguồn nước, người ấy lập tức trở nên giàu có.

Nhưng Đức Giêsu đã phá tan sự an thân giả tạo của chị. Người cho chị thấy giếng nước của chị chỉ là phù du, vì giếng nước ấy không cho nước hằng sống. Người cho chị thấy hạnh phúc gia đình mà chị đang có chỉ là hư ảo, vì hạnh phúc ấy xây dựng trên chỉ một mối duyên hờ. Người cho chị thấy niềm tin của chị vào đền thờ chỉ là ngụy tín, vì đền thờ chỉ là gạch đá vô hồn, không có Chúa ngự bên trong.

Lời Chúa như lưỡi gươm sắc bén chẻ đôi đời chị. Mảnh đời cũ để lại bên giếng, kho tàng của trần gian. Mảnh đời mới ngụp lặn trong dòng suối đức tin, kho tàng thiên quốc.

Lời Chúa là ngọn đèn soi đường. Nên chị bước đi những bước lẹ làng, vững chắc hướng về sự sống mới.

Lời Chúa là chiếc cầu đưa chị vào đời sống thần linh. Chị bỏ lại bên này cầu chiếc bình múc nước, vì bên kia cầu chị đã có mạch nước trường sinh. Chị bỏ lại bên này cầu mối duyên hờ, vì bên kia cầu chị đã găp được tình yêu đích thực. Chị bỏ lại bên này cầu ngôi đền thờ trống rỗng, vì bên kia cầu chị gặp được Đấng chị phải tôn thờ trong tinh thần và chân lý. Chị như cánh đại bàng bay bổng trên trời cao với những đường bay rất đẹp.

Người phụ nữ là cánh đại bàng. Chị đã trút bỏ mọi gánh nặng kéo trì đôi cánh, nên chị bay vút lên cao. Còn ta vẫn chỉ là loài gà. Ta vẫn còn bên này cầu. Những gì người phụ nữ bỏ lại, ta ôm lấy mang về. Ta vẫn còn ôm ấp những giấc mơ trần tục. Của cải, dục vọng vẫn là những tảng đá ngăn chặn dòng nước đức tin. Những ngụy tín, những ảo tưởng, những thứ đạo đức hình thức, giả hiệu vẫn còn che chắn không cho ta nhận biết chính mình. Và vì thế ta không bao giờ gặp được Chúa.

Cầu Nguyện:

Xin lời Chúa như lưỡi gươm tách bạch trắng đen, để ta dứt lìa tội lỗi, thoát khỏi thói an tâm giả tạo, thói đạo đức hình thức. Xin lời Chúa tháo đi những tảng đá trì trệ, để dòng suối tin yêu khai thông, để nước mắt sám hối tuôn trào rửa sạch hồn ta. Và để tình yêu bừng nở đem cho ta hạnh phúc chân thật.

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

NƯỚC HẰNG SỐNG



Nước là nguồn sống. Mọi loài thụ tạo đều cần có nước để bảo tồn sự sống. Thiên Chúa ban dư tràn các nguồn nước từ trên cao mây trời, từ sông suối biển hồ và từ các nguồn mạch dưới đất. Nơi nào có nước, nơi đó có hiện hữu của sự sống và sự phú túc.

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta biết, ngoài các nguồn nước theo cách hiểu thông thường, còn có một nguồn nước khác nữa, đó là “Nước Hằng Sống”.  Trong cuộc đàm thoại với người đàn bà, Chúa Giêsu đã mạc khải cho bà về nguồn ân sủng, đó là nguồn nước trường sinh sẽ không bao giờ cạn: Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời” (Ga 4, 13). Từ câu chuyện đời thường, Chúa Giêsu đã khéo dẫn bà đi vào đời sống nội tâm và nhìn biết được chính mình. Biết phận mình, bà ra giếng giữa lúc trưa nắng để tránh gặp những người hàng xóm quen thuộc. Bà đã gặp được Chúa Giêsu đang ngồi nghỉ cạnh giếng. Chúa Giêsu không ngần ngại khởi đầu câu chuyện xin người đàn bà cho nước uống. Thời đó, chúng ta biết giữa người Do-thái và người Samaria phân biệt không liên đới và không dùng chung các dụng cụ tại giếng. Ngay cả các tông đồ cũng ngạc nhiên về cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và người đàn bà tội lỗi nơi công cộng. Nhờ cơ hội này, Chúa đã đi vào sâu thẳm trong tâm hồn khao khát sự thật của bà. Chúa đã giải thoát cho bà.

Chúa Giêsu đã mở lòng người đàn bà Samaria. Bà đã đón nhận nguồn nước sự sống trường sinh. Bà đã tìm ra sự thật của việc tôn thờ Thiên Chúa trong thần trí. Bà đã thấy và đã tin vào Chúa Giêsu. Bà trở thành nhân chứng của nước trời mang tin vui cho những người chung quanh. Dù bị xem là người dân ngoại, bà đã có lòng tin trở lại. Thánh Phaolô trong thơ gởi cho dân thành Rôma đã công bố: Đấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa (Rm 5, 2).Đức tin dẫn đến ân sủng. Tin vào Chúa Giêsu là cửa ngõ dẫn chúng ta đến ơn cứu độ. Niềm tin là sự phó thác hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta rằng tiên vàn hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người và mọi sự sẽ được ban cho.

Lạy Chúa, xin cho nguồn nước hằng sống tuôn đổ vào tâm hồn, để chúng con được hưởng nếm tình yêu dịu ngọt của Chúa. Xin Chúa thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi vết nhơ tội lỗi và ban cho chúng con một trái tim biết yêu thương chân thành.

CHÚA VẪN CHỜ TA...!


Dụ ngôn “người con hoang đàng” trong Tin Mừng Thánh Luca là một dụ ngôn hết sức ý nghĩa. Dụ ngôn nói lên sự chờ đợi của người cha, mong đợi người con tội lỗi ăn năn trở về. Đó cũng chính là tâm tình của Thiên Chúa với mỗi người trong chúng ta, cách riêng là các Kitô hữu.

Chờ đợi là dấu hiệu của lòng yêu mến. Người không có lòng yêu mến thì không tha thiết gì, cũng chẳng mong đợi chi hết, chỉ khi nào chúng ta yêu mến ai, hoặc yêu thích điều gì, lúc đó chúng ta mới cảm thấy mong đợi. Tâm niệm đời sống người tín hữu chính là lòng mến và tình yêu Chúa Kitô. Vì tình yêu, Chúa Giêsu đã không ngừng đến gõ cửa tâm hồn mỗi người qua trung gian tha nhân, những người nghèo khổ cần được thương yêu, tiếp nhận và giúp đỡ. Cũng vì tình yêu, Chúa Giêsu đến gõ cửa tâm hồn mỗi người qua những khó khăn thử thách của cuộc sống hằng ngày, ngay cả qua những yếu đuối, thất bại và tội lỗi.

Hy vọng của người tín hữu không phải là giấc mơ hảo huyền, nhưng được đặt trên nền tảng vững chắc là Ðức Giêsu. Ngài muốn đổi mới tâm hồn chúng ta, nhưng Ngài cũng không thể làm gì được nếu chúng ta không muốn, nếu chúng ta không biết kiên nhẫn đợi chờ và không biết mở cửa đón nhận Ngài với tất cả tấm lòng yêu mến.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến trần gian để rao truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Xin Chúa hãy kiên cường niềm hy vọng và sưởi ấm lửa yêu mến Chúa trong tâm hồn chúng con.

Xin đừng để con thờ ơ dửng dưng trước lời mời gọi của Chúa, đừng để con dại dột cố chấp trước những dấu hiệu của tình yêu Chúa.

Xin giúp con biết luôn sẵn sàng mau mắn trong công việc thiện hảo để chúng con hân hoan đón nhận ơn thánh của ngày cứu độ, ngày Chúa đến trong giờ sau hết của đời sống chúng con. Amen

HÃY TRỞ VỀ.....!

“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15, 20)

Chia Sẻ:

Thiên Chúa là Đấng rất nhân từ. Lòng nhân từ của Ngài thể hiện qua sự kiên nhẫn với lỗi lầm của con người. Cho dù con người có sa đi ngã lại trong lầm lỗi, Ngài vẫn thứ tha. Lòng nhân từ của Ngài thể hiện qua lòng bao dung, cho dù con người có đốn mạt đến đâu, Ngài cũng sẵn lòng giang rộng tay tha thứ nếu biết ăn năn trở về.

Tình thương đó được Chúa Giê-su phác hoạ qua dụ ngôn Người cha nhân từ. Một người cha không hề oán trách khi con đòi chia gia tài. Không hề oán trách khi con phung phí hết tài sản. Không hề trách mắng khi con thành tâm trở về. Tình thương của Cha còn thể hiện qua tấm lòng luôn khao khát chờ mong con trở về. Người cha ngày ngày ngóng con trở về. Và chỉ cần nhìn thấy con từ đằng xa, Cha đã chạy ra ôm con vào lòng.

Cầu Nguyện:

Xin cho chúng ta luôn tin tưởng vào lòng Chúa xót thương. Luôn can đảm trở về sau những lần vấp ngã, và luôn tín thác vào Chúa luôn mãi. Amen

THIÊN CHÚA – NGƯỜI CHA NHÂN LÀNH (tt)


Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:

“Một người kia có hai con trai……….(Lc 15, 1-3, 11-32)

Chia Sẻ:

Dụ ngôn người cha nhân hậu là một dụ ngôn nổi tiếng, qua đó Đức Giêsu cho thấy tại sao Ngài đón tiếp và ăn uống với tội nhân. Đơn giản chỉ vì ngài giống Thiên Chúa là người Cha nhân hậu.

Người cha nhân hậu là người tôn trọng tự do của đứa con thứ, người đã chia một phần ba gia sản cho nó ngay khi ông còn sống. Ông đã không tìm con, như người ta tìm chiên lạc hay tìm đồng bạc bị mất. Ông tin và hy vọng sớm muộn nó sẽ về, nên ông kiên nhẫn chờ. Vì chờ, nên ông là người đầu tiên trông thấy con trở về tiều tụy. Không cầm lòng được vì thương, ông chạy ra, ôm lấy cổ con mà hôn. Người con của ông đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. Khi con thứ sám hối, ông đã trả lại cho cậu tất cả vinh dự của người con. Việc duy nhất phải làm ngay là mở tiệc ăn mừng. Khi con cả giận dỗi, không chịu vào nhà chung vui với cha và em, một lần nữa người cha lại đi ra và năn nỉ . Ông chấp nhận ở thế yếu vì ông không muốn mất một đứa con nào. Ông không thể yên tâm ở trong nhà khi còn một đứa con ngoài cổng.

Hoán cải bao giờ cũng khó. Con thứ phải can đảm lắm mới dám trở về nhà cha. Làm sao lường được phản ứng của cha, anh, của gia nhân, hàng xóm? Làm sao dám về nhà trong tình trạng thân tàn ma dại? Nhưng con cả cũng không dễ vào nhà chút nào, vì vào nhà là phải bắt tay thằng em đã phung phí hết của cải, vào nhà là phải chấp nhận sự thiên vị khó hiểu của người cha.

CẢ HAI NGƯỜI CON ĐỀU CẦN HOÁN CẢI.

Cầu Nguyện:

Lạy Chúa, Chúa như người Cha nhân hậu. Chúa hằng giang tay chờ đón chúng con trở về với Chúa. Chúa không hỏi tội, Chúa chẳng chấp nhất tội chúng con. Vì “nếu Chúa chấp tội thì nào ai rỗi được”. Xin giúp chúng con trong mùa chay thánh này biết ăn năn trở về thật lòng, biết sám hối những lỗi phạm của mình, và biết canh tân đổi mới cuộc sống.