Translate

Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 23.12


Phải đặt tên cháu là Gio-an. (Lc 1. 60b)

Bài Tin mừng hôm nay cho thấy việc Gioan sinh ra được Thánh sử Luca mô tả thật là ngắn gọn, nhưng cho thấy sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa nơi con trẻ này. Trước hết, việc cưu mang và hạ sinh Gioan trong dạ của một phụ nữ đã quá hiếm muộn là không thể được, nhưng Thiên Chúa đã dùng quyền năng thương xót của Ngài trước hoàn cảnh hoàn toàn bất lực của con người để đem lại niềm vui lớn lao cho con người; đồng thời qua trẻ này Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa của Ngài bằng sự chuẩn bị, sẵn sàng cho Đấng Thiên Sai đến để cứu độ dân Người. Vì thế, Gioan sau khi sinh ra có những dấu hiệu hết sức lạ lùng và ngạc nhiên, đến nỗi láng giềng và người thân thích không ai hiểu nổi, nhất là việc đặt tên cho con trẻ là Gioan. Ông Gioan có một sứ mạng đặc biệt, là người đi trước dọn đường cho Chúa đến. Ông là ngôn sứ quan trọng nhất trong khoảng giao thời giữa Cựu Ước và Tân Ước, ông sẽ làm phép rửa và giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng. Cuộc sống chay tịnh nhiệm nhặt của Gioan là lời tiên báo về con người Đức Giêsu, Đấng sẽ đến mở ra một triều đại mới giúp cho nhân loại hiểu được rằng Nước Thiên Chúa không phải nơi đầy vẻ xa hoa tráng lệ nhưng là vương quốc của sự nghèo khó và yêu thương, là thời của hòa bình và công chính, của tha thứ và chữa lành. Qua trẻ Gioan, Thiên Chúa đã bước xuống với gia đình ông Dacaria, khôi phục và trả lại phẩm giá cho bà Êlisabét gần một đời người chịu nhiều điều tiếng của hủ tục Do Thái vì son sẻ. Thiên Chúa đã đến với nhân loại, đến với dân tộc Do Thái giúp họ thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết. Tình thương Thiên Chúa biểu lộ cách trọn vẹn trong con người Đức Giêsu mà ông Gioan sắp giới thiệu. Và cho đến cuối đời, Gioan đã đổ máu mình làm chứng cho Sự Thật, làm chứng cho Chân Lý Thiên Chúa là tình yêu. Ông là nhân vật lớn cuối cùng của Cựu Ước và là nhân vật đầu tiên của thời Tân Ước. Ngay từ lúc tượng thai trong lòng mẹ, trẻ Gioan đã mang một dấu ấn khác thường. Cha mẹ của Gioan là ông Dacaria và bà Êlisabét đều son sẻ và đã qua thời sinh nở, thế nhưng Thiên Chúa đã làm nên những điều kỳ diệu vượt sức tưởng tượng của loài người. Khi Gioan chào đời, sự có mặt của con trẻ đã làm những người họ hàng hết sức kinh ngạc lẫn vui mừng.Theo luật Do Thái, 8 ngày sau khi sinh, cả gia đình họ hàng họp lại làm phép cắt bì và đặt tên cho con trẻ. Bà Êlisabét đã gọi tên con trẻ là Gioan, và ông Dacaria cũng đồng ý như thế theo sự linh hứng của Thiên Chúa. Gioan là một cái tên chưa từng có trong dòng họ của ông Dacaria nhưng là tên do Thiên Chúa mặc khải. Trong Kinh Thánh, danh xưng “Gioan” có nghĩa là Thiên Chúa biểu lộ tình thương.

Thời Tân Ước, ngoài sự sinh hạ của Chúa Giêsu, thì chỉ có Gioan là người duy nhất được Thiên Chúa sai tổng lãnh thiên thần Gabriel loan báo về cuộc sinh hạ và truyền lệnh cho người cha đặt tên gì cho con trẻ. Theo văn hoá Phương Đông, người nào đặt tên cho ai, thì có toàn quyền pháp lý trên vận mệnh của người được đặt tên. Lại nữa, việc đặt tên cùng đồng nghĩa trao ban một sứ mệnh, như trường hợp các sư phụ đặt tên mới cho đệ tử. Vì thế, việc Thiên Chúa sai thiên thần đến loan báo sự đầu thai và đặt tên cho Gioan, nói lên việc Gioan đã được thánh hiến và hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa ngay từ trong lòng mẹ, đồng thời việc đặt tên cũng là trao ban cho Gioan một sứ mệnh là sẽ là Tiền Hô cho Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế. Chiêm ngưỡng biến cố này, mọi Kitô hữu cũng ý thức hơn về sự tái sinh của mình trong ngày nhận bí tích Rửa Tội, chúng ta được sinh ra trong Giáo Hội, được phục hồi quyền làm con Thiên Chúa và nhận một tên mới theo tên vị thánh bổn mạng. Và cũng từ đó chúng ta phải sống xứng đáng với ơn thánh, cũng như mang trên mình sứ mạng như vị Tiên Hô của Chúa, dọn đường cho Chúa đến với những nơi chưa nhận biết Người. Như vậy, mỗi cuộc đời chúng ta là một kế hoạch của Thiên Chúa, đòi hỏi chúng ta phải bước đi trong niềm tin, dù cuộc đời không thiếu những lúc tưởng chừng như không còn gì để hy vọng, chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng không bao giờ bỏ rơi những ai kêu cầu Người, dù chúng ta lắm khi không hiểu được cách thức can thiệp của Chúa, hay đã hơn một lần cảm thấy vô lý trước Lời Hứa.

Chúng ta cũng thấy là khi nghi ngờ Lời Thiên Chúa thì ông Dacaria bị câm, đến lúc ông thực hiện Lời Thiên Chúa hứa để đặt tên cho con trẻ là Gioan thì ông lại nói được để chúc tụng Thiên Chúa. Điều này cho thấy, bao lâu con người còn nghi ngờ Lời Thiên Chúa, là bấy lâu tâm hồn con người còn bị đóng băng và không thể ca tụng Thiên Chúa, cũng như không thể thi hành chức vụ “ngôn sứ” là loan báo Ơn Cứu Độ cho người khác. Tắt một lời, khi chúng ta không có một tâm hồn đầy Chúa, thì không thể ca tụng Chúa và loan báo Tin Mừng. Như vậy, Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy đón nhận Lời Chúa và thi hành Lời Chúa muốn chúng ta làm gì cho Người (như ông Dacaria đã làm là đặt tên cho con theo lệnh Chúa). Để rồi cũng như ông Dacaria, chúng ta mở miệng ca tụng Chúa và nói về Ơn Cứu Độ dành cho muôn dân.

*****

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống xứng đáng với ơn thánh, cũng như mang trên mình sứ mạng như vị Tiên Hô của Chúa, dọn đường cho Chúa đến với những nơi chưa nhận biết Người. Amen

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 22.12


Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! (Lc 1, 49)

Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của cuộc thăm viếng. Mẹ Maria khi gặp chị họ là bà Elizabeth,  ngay giờ phút đầu tiên mới gặp nhau, bà Elizabeth đã cất lời ca ngợi Mẹ là Người có phúc nhất trong giới phụ nữ; Mẹ Maria cũng đã hân hoan vui sướng ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa vì Mẹ đã cảm nghiệm sâu sắc tình thương Thiên Chúa dành cho Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi.”. Hẳn không ai trong tôi, bạn và anh chị đi vào giờ suy niệm hôm nay mà không biết đến bài ca này. Không chừng có người đang hát cùng Mẹ Maria nữa. Magnificat ! Bài ca mang cung bậc cảm xúc phong phú và tròn đầy này vẫn được cất lên mỗi chiều trong giờ kinh phụng vụ Hội Thánh. Bài ca đặc biệt được yêu thích không chỉ bởi người hiểu sâu biết rộng, mà cả nơi người đơn sơ, ít học, tầm thường, cùng khốn. Một trong những lý do giúp bài ca này được yêu mến hẳn vì đây là tiếng nói, là tâm tình, là xác tín của những người hèn mọn. Mẹ hát thay cho họ. Mẹ dâng lên Chúa, Mẹ ca khen Chúa, Mẹ tuyên xưng thay cho những người yếu về thể xác hay tinh thần, những người vất vả trong tâm hồn hay nơi cuộc sống, những mẹ góa con côi, những tù tội hay bần nông, ...
Thật vậy, ai là người dễ nhận ra sự hiện diện, tình yêu thương và tài chở che của Chúa trong mọi biến cố lớn nhỏ của đời mình, nếu không phải là những người cảm thấy sức mình hèn, trí mình mọn ? Ai là người hớn hở vui mừng, nếu nếu không phải là người nhận ra rằng chính Chúa đang từng bước giúp mình vượt qua những nỗi đau, những thiệt thòi, những mất mát trong đời ? Ai là người xác tín mạnh mẽ rằng Thiên Chúa giàu lòng thương xót cũng chính là vị thẩm phán công minh, nếu không phải là người đang cảm nhiệm mình bỗng nhiên được bù đắp những thiếu thốn, được bênh vực trước oan khiên, được bồi hoàn trước thiệt thòi và mất mát ấy ? – Còn tôi, bạn và anh chị, chúng ta từng trải nghiệm vì được ở trong số những người kể trên đây chăng ? Và nếu ai đó đã thực sự nhận ra Chúa đang ở với mình, đang hướng dẫn, bảo vệ, chở che, và tuôn đổ phúc lành của Ngài trên đời mình, liệu họ sẽ im lặng ? hay là cất cao lời Ngợi ca Lòng Thương Xót ? - Chắc chắn họ sẽ làm như Đức Mẹ hôm nay.

Có thể nói, Đức Maria đã cất lên bài ca của những người bị áp bức, mà trong đó Mẹ và bà Elisabeth diễn tả mối bận tâm của mình dành cho dân Israel. Đức Maria đã nhận vào trong con người của Mẹ một cảm thức và mối bận tâm của bà Anna sau khi bà này sinh hạ Samuel, và ca ngợi về tất cả những điều này vào trong một bài ca biết ơn. Thánh sử Luca giữ lấy cảm thức này cho chúng ta trong kinh Magnificat mà ngài đặt như là một lời dẫn cho việc công bố của Đức Giêsu về sứ mạng của Người là giải phóng người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi (Lc 4, 18- 19). Khi hát lên lời này, Đức Maria như muốn tuyên bố, Thiên Chúa không đánh giá con người theo tiêu chuẩn trần thế. Những con người thành đạt, giàu sang và leo lên đỉnh cao quyền lực, có lẽ sẽ làm cho mọi người kính nể và sợ sệt, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Giàu sang và quyền lực trần thế chỉ là thứ chóng qua như “con người chóng qua như cỏ”. Thiên Chúa chú tâm đến người góa bụa, trẻ mồ côi, người hèn mọn, những con người không có chút quyền hành gì, những con người vô tích sự trước mắt người đời. Kẻ giàu sang quyền thế thường thoả mãn về mình; người nghèo hèn chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Kinh Magnificat là tuyên ngôn: Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và người bị áp bức; phúc cho người nghèo vì có Thiên Chúa là Đấng luôn chăm sóc họ. Đức Maria là mẫu gương sự nghèo khó và lời kinh Magnificat mà Mẹ hát lên phản ánh việc Mẹ đứng về phía những người bị áp bức. Điều này làm cho lời kinh này mang một tính cách mạng vĩ đại: cần phải thay đổi vị trí xã hội để mọi người được bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

TÓM LẠI: Lời kinh Magnificat được thốt lên trong bối cảnh của cuộc thăm viếng bà chị họ Elisabeth, bao hàm hành trình truyền giáo đầu tiên của Mẹ Maria với đầy đủ tính năng của một cuộc truyền giáo thực thụ, khi Mẹ đem Chúa Giêsu đến cho người khác và trao ban Chúa Giêsu để những người lãnh nhận được tràn ngập niềm vui vì được cứu độ. Điều này cũng tựa như việc Phêrô cho anh què ở Cửa Đẹp Đền Thờ chính Chúa Giêsu và anh được chữa lành để rồi anh nhảy nhót tưng bừng ca ngợi Thiên Chúa. Biến cố thăm viếng làm nổi bật lên đặc trưng của người môn đệ là: Đức tin, đức ái và cảm thông -nghĩa là mỗi Ki-tô hữu đều mang trên mình niềm tin phó thác cho công trình cứu độ của Thiên Chúa, thực hiện đức ái Kitô bằng việc dấn thân phục vụ và trao ban niềm vui, đồng thời cảm thông và bênh vực cho những người nghèo hèn và những người bị áp bức trong xã hội.

 ********

Lạy Mẹ Maria, xin dạy và giúp mỗi người chúng con biết dâng lời ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa trong suốt cuộc đời, được thể hiện qua cuộc sống vui tươi, biết nhạy bén với những nhu cầu của tha nhân và sẵn sàng giúp đỡ họ bằng tình yêu của Thiên Chúa, để qua đó họ tin nhận có Thiên Chúa tình yêu trong cuộc đời chúng con và cả trong cuộc đời của họ nữa. Đặc biệt, xin Mẹ cầu bầu và hướng dẫn cho mọi người được đón nhận đức tin vào Thiên Chúa. Amen.

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 21.12

Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? (Lc 1, 43)

Con Thiên Chúa, từ ngày truyền tin, lại còn là con Đức Maria. Hồng ân ấy, Đức Maria không giữ cho riêng mình, Người đã vội vã lên đường, đi thăm người bà con để chia sẻ cho nhau. Mở đầu bài Tin Mừng với từ “Hồi  ấy”, nghĩa là ngay sau biến cố Truyền Tin, ngay sau khi đón nhận Chúa Giêsu vào cung lòng, Đức Maria đã lên đường ngay. Mẹ vội vã lên đường như đây là một công việc gấp rút, cần phải thực hiện càng sớm, càng tốt. Đó là hình ảnh của một con người "đầy Chúa", sẵn sàng ra đi loan báo Tin Mừng, loan báo về Tình Yêu Thiên Chúa thực hiện trong Đức Kitô. Đúng thế, Mẹ đang cưu mang Đấng Cứu Tinh- một niềm vui lớn cho dân Israel đang trông chờ, nên Mẹ không chần chừ, không lưỡng lự mà đon đả lên đường đem Tin Mừng cho người chị họ của mình. Động lực thúc đẩy Mẹ không phải vì Mẹ tò mò xem Lời Thiên sứ nói về Êlisabét có đúng không? Cũng không phải mau mắn đến giúp bà chị, nhưng vì Mẹ tràn đầy niềm vui Tin Mừng, nên tức khắc cần chia sẻ ngay cho những người thân cận của Mẹ. Đây là một cách truyền giáo mà người Kitô hữu chúng ta cần học.

Sự xuất hiện của Mẹ sau tiếng chào đã làm cho bà Elisabeth được tràn đầy Thánh Thần và Gioan Tẩy Giả được cứu độ. Chúng ta hình dung ra ngay lúc này đây qua bài Tin Mừng, cảnh hai con người tràn ngập niềm vui: Niềm vui Mẹ đem Chúa đến cho nhà Giacaria, niềm vui của bà Eliazabeth phải kêu lên, niềm vui của Gioan trong bụng mẹ phải nhảy lên vui sướng, niềm vui của hai bà mẹ hạnh phúc vì đều đang được mang trong mình một mầm sống mới. Tuy nhiên, niềm vui chỉ thật sự viên mãn khi biết chia sẻ niềm vui, và khi chia sẻ thì cũng được nhận lại niềm vui để nên phong phú và trọn vẹn. Mẹ Maria đem niềm vui đến chia sẻ cho bà Elizabeth, thì cùng lúc mẹ đón nhận niềm vui vì Chúa đã thương cất đi nỗi nhục nhằn son sẻ của bà chị họ. Niềm vui càng nên trọn vẹn khi được cụ thể hóa bằng lời ca ngợi Chúa và phục vụ nhau. Mẹ Maria đã thốt lên bài ca Magnificat bất hủ và tận tình phục vụ bà chị họ Elizabeth trong thời kỳ thai nghén. Một tấm gương tuyệt diệu của “Bà Chúa” đối với con người. Quả thế, dù được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ vì đã cưu mang Con Thiên Chúa, cưu mang Đấng Cứu Thế mà cả dân Israel và muôn dân trông đợi, nhưng Đức Maria đã không tự coi mình cao trọng trong phẩm vị “Hoàng Thái Hậu” mà hạ mình để phục vụ, mà người đầu tiên được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến phục vụ là bà Elisabeth. Nếu Đức Giêsu là Chúa và là Thầy mà đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ, thì trước đó chính Mẹ Người là Mẹ Thiên Chúa đã hạ mình phục vụ một thụ tạo, và với một công việc rất thấp hèn suốt một thời gian ba tháng theo lời kể của Thánh sử Luca (x. Lc 1, 56).

Ngoài ra, biến cố gặp gỡ giữa Maria và Elisabeth đã làm nổi bật lên tầm quan trọng của đức tin trong việc đón nhận, gặp gỡ và trao ban. Quả thế, sự gặp gỡ là khởi đầu cho những giao ước và nối kết các mối liên hệ trong cuộc sống. Muốn gặp gỡ đòi hỏi phải ra khỏi mình, ra khỏi chính nơi yên ổn của mình, ra khỏi những vướng bận ràng buộc mình để đến với tha nhân. Chính vì vậy, mà với khoảng cách giữa Nazareth và Ain Carem cả trăm cây số, nhưng vì tình yêu và muốn đem Chúa đến cho người chị họ, nên Mẹ Maria đã không quản ngại ra đi để gặp gỡ bà chị, dù khi đi phải chấp nhận nhiều từ bỏ đầy rủi ro. Nhưng theo Tin Mừng, để có được cuộc gặp gỡ này, đòi hỏi một sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, từ đó mới dám ra đi, mới dám dấn thân không ngại rủi ro đường xa nguy hiểm. Tin rằng Chúa đã thực hiện cho mình và tin rằng Chúa cũng đã rất thương đối tượng mình gặp gỡ. Thật vậy, lúc nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, Đức Maria cũng chưa biết Thiên Chúa sẽ đưa mình tới đâu, nhưng Đức Maria chắc chắn tin vào Thiên Chúa và chương trình của Người. Chính lòng tin sắt đá ấy đã làm cho Đức Maria xứng đáng được đón nhận Chúa Giêsu Kitô vào trong dạ mình, thông chia cho Người bản tính nhân loại để Người trở nên một phần tử loài người mới, và bắt đầu từ đó, một nhân loại mới đã được thai sinh. Chức vụ làm mẹ này là kết quả của lòng tin nơi Đức Maria vào Thiên Chúa. Đức Maria không những được tôn vinh về chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế về mặt thể xác, nhưng Mẹ còn cao trọng hơn mọi người về mặt đức tin. Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói: “Đức Maria là người môn đệ đầu tiên trọn hảo nhất của Đức Kitô và trọn hảo nhất về mặt đức tin”. Nếu Abraham là “tổ phụ những kẻ tin” (x. Rm 4, 12), thì Đức Maria là hiện thân sự hoàn hảo của đức tin. Abraham ra đi còn có một lời hứa “đất và dân”; Đức Maria đón nhận trách nhiệm trong một niềm tin phó thác mạng sống mình vào tay Thiên Chúa. Dù không có bất cứ một lời hứa nào, Đức Maria vẫn phó thác và đi hết con đường vâng phục của mình trên trần gian. Thiên Chúa còn sai sứ thần nắm bàn tay sát tế của Abraham để khỏi hạ gươm giết con một mình, còn Đức Maria không thấy bàn tay nào ngăn cản các lý hình giết chết Người Con yêu dấu.

*******

Lạy Chúa, như Mẹ Maria đã chia sẻ vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô trong tất cả chiều kích cuộc đời trần thế của Người, đặc biệt trong sự gặp gỡ và phục vụ. Xin cho chúng con trong cuộc lữ hành đức tin cũng biết noi gương Mẹ Maria, là sẵn sàng ra khỏi mình để đến gặp gỡ tha nhân, để phục vụ và trao ban Chúa cho họ. Amen.

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 20.12


Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” (Lc 1, 35)

Trong những ngày cuối của Mùa Vọng này, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Tin Mừng về biến cố truyền tin, để chúng ta hiểu được rằng đã đến lúc Ngôi Lời Thiên Chúa giáng sinh làm người, trong cung lòng của Mẹ Maria. Đây là cuộc truyền tin thứ ba sau hai cuộc truyền tin cho thánh Giuse và ông Dacaria, Thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến với Mẹ Maria và gửi cho Mẹ một sứ điệp quan trọng từ trời cao, tuy nhiên, cuộc truyền tin này mang một ý nghĩa sống còn khi tạo vật nín thở chờ tiếng “xin vâng” của Đức Maria để Con Thiên Chúa nhập thể đi vào trần gian.

Lời “xin vâng” không chỉ nói lên sự khiêm nhường và vâng phục cách đơn thuần, nhưng còn hơn thế nữa, Người xác tín và hoàn toàn đồng ý với chương trình của Thiên Chúa, nghĩa là “ngay bây giờ sẽ thụ thai”, mà Giuse không biết gì cả. Khi chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, thụ thai để làm Mẹ Đấng Cứu Độ, Đức Maria biết rất rõ sự nguy hiểm đang chờ đón mình là có thể mất mạng vì luật Môsê sẽ ném đá thiếu nữ đã đính hôn mà có thai ngoài hôn nhân (x. Đnl 22, 22- 23). Ngoài ra, tiếng “xin vâng” còn là một tiếng can đảm vâng phục, tin tưởng phó thác cả mạng sống vào tay Thiên Chúa và tiếng “xin vâng” đó sẽ theo suốt cuộc đời của Đức Maria cho đến cây thập giá. Âm thầm chấp nhận tất cả, vì chương trình của Thiên Chúa. Thật vậy, Đức Maria nhận ra ý muốn của Đấng Toàn Năng trong lời thiên sứ và tùng phục quyền năng của Người, Mẹ đáp lại: “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).  Như thế, Mẹ đã ưng thuận sự lựa chọn của Thiên Chúa, để nhờ Chúa Thánh Thần, trở thành Mẹ của Thiên Chúa, vì Mẹ được hướng dẫn bởi tình yêu hoàn toàn “tận hiến” cho Thiên Chúa một con người nhân bản, để cộng tác trọn vẹn mối hiệp thông vào chương trình cứu độ.  Sau hết, qua lời “xin vâng”, Mẹ Maria đưa ra cho chúng ta xem bức tranh của niềm tin, đó là một lời đáp trả ân sủng của Thiên Chúa. Đức tin không phải là một cái gì đó chúng ta sở hữu, nhưng một cái gì đó sở hữu chúng ta. Đức tin là lời đáp trả sự vâng phục đối với Thiên Chúa được biểu lộ trong cuộc sống của chúng ta. Trong Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải có kinh nghiệm về Thiên Chúa như tình yêu và sự cho đi; đó là ân sủng. Ân sủng là tình yêu chăm sóc của Thiên Chúa đã làm cho chúng ta. Tình yêu này không phải là hời hợt và tình cảm ủy mị, nhưng là cả một kế hoạch yêu thương Thiên Chúa ban cho nhân loại, qua biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Ngoài ra, đức tin còn giúp chúng ta khám phá ra rằng: tất cả chúng ta được Thiên Chúa yêu thương, được Ngài tuyển chọn, và được Ngài ban phúc lành.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu đúng trong sự “xin vâng” của Đức Maria chất chứa hoàn toàn với tất cả ý thức và tự do, Người được thiên sứ Gabriel giải thích ý nghĩa công trình của Thiên Chúa muốn được thực hiện nơi con người của Mẹ. Thật vậy, ý định của Thiên Chúa luôn được thi hành và chương trình của Thiên Chúa luôn được thực hiện, nhưng không phải bằng cách cưỡng bách hay ép buộc. Khi chương trình Thiên Chúa liên can đến con người mà Thiên Chúa trang bị cho được tự do, thì có thể nói, chương trình ấy phần nào lệ thuộc vào sự cộng tác của con người. Nếu Thiên Chúa sử dụng con người như những “con tốt” trên bàn cờ hay như những vật vô tri trong vũ trụ, thì mọi sự sẽ diễn ra trong trật tự và ổn định, nhưng Thiên Chúa đã không muốn thế, vì như vậy sẽ tước đi sự tự do -điều quí giá nhất trong tình yêu- con người, làm cho sự đáp trả mất đi ý nghĩa và giá trị của nó. Cũng thế, Đức Maria, với cả “nhân vị” của mình, Người đã thưa tiếng “xin vâng” với sự cộng tác cao nhất, trong sự tự do và trách nhiệm, cùng với một tình yêu không mức độ. Như vậy, qua lời “xin vâng”, Đức Maria để lại cho chúng ta một mẫu gương chói ngời về sự vâng phục và tín thác hoàn toàn trong tay Thiên Chúa, với cả ý thức tự do tận hiến cho Chúa. Mẹ trở thành một khí cụ tuyệt hảo trong tay Thiên Chúa để ban ơn cứu độ cho nhân loại. Mẹ đã qui về Thiên Chúa tất cả mọi đặc ân và vinh quang nhận được, khiêm tốn nhìn nhận mình là “nữ tỳ hèn mọn” và tất cả là do Thiên Chúa. Đặc biệt Mẹ đã can đảm thưa tiếng “xin vâng” để suốt cuộc đời âm thầm chấp nhận phó thác mình cho Thiên Chúa hầu cộng tác cứu độ loài người. 

Xin mẹ cầu bầu cho chúng ta cũng được tràn đầy ân sủng, khiêm tốn và xin vâng, để trở thành khí cụ trong bàn tay Thiên Chúa hầu đem Tin Mừng đến cho mọi người. Xin cho chúng ta luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn qui hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn.

 *********

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết noi gương Mẹ Maria, luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn qui hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn. Amen.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 19.12


Ông phải đặt tên cho con là Gio-an. (Lc 1, 13b)

Bắt đầu vào những ngày cao điểm cận kề lễ Giáng Sinh (17-24/12), Phụng Vụ của Giáo Hội lần lượt cho chúng ta nghe liên tiếp 3 cuộc truyền tin: truyền tin cho thánh Giuse ngay trong giấc mộng ban đêm, truyền tin cho ông Dacaria lúc dâng hương trong đền thờ và truyền tin cho Đức Maria lúc cầu nguyện tại nhà riêng. Ba cuộc truyền tin xảy ra với ba thời điểm khác nhau, không gian khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, sứ điệp khác nhau, tuổi đời khác nhau và sự đáp trả cũng khác nhau. Nhưng mục đích chung cuối cùng là chuẩn bị cho Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế cứu đời.

Hôm qua chúng ta đã được nghe về cuộc truyền tin cho thánh cả Giuse, với sứ điệp dành cho ngài là làm cha nuôi Chúa Giêsu. Thánh Giuse đã đáp trả với một sự thinh lặng đón nhận, đúng như bản tính âm thầm và chiêm niệm của ngài, đến độ toàn bộ 4 Tin Mừng không gặp thấy một lời nào của thánh nhân. Thánh nhân không vặn hỏi, không đặt vấn đề và không ra điều kiện gì cả, mặc dù ngài đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Hôm nay, cuộc truyền tin dành cho ông Da-ca-ri-a, là một tư tế, với sứ điệp là làm cha của Gioan - Vị Tiền Hô của Chúa Giêsu. Da-ca-ri-a lắng nghe sứ điệp từ thiên thần Gabriel với một sự nghi hoặc theo cách suy nghĩ theo kiểu khoa học của ông.

Có người cho rằng, hơi bất công cho ông so với Đức Mẹ còn được đối đáp vài câu, trong khi ông Da-ca-ri-a nói được một câu là bị câm ngay. Thật ra, như đã nói ở đầu bài chia sẻ, chúng ta cần phải đặt sự kiện vào không gian, thời điểm, hoàn cảnh, vị thế của thụ nhân, nội dung sứ điệp và lời vấn đáp thì mới có một nhận xét chính xác và rút ra được bài học gì cho bản thân.

- về không gian: việc truyền tin cho Da-ca-ri-a không phải xảy ra trong giấc mơ như với Thánh Giuse, cũng không phải nơi căn phòng nghèo nàn Nazareth như Đức Mẹ, mà là nơi linh thánh nhất của đền thờ (chỉ những tư tế trúng thăm mới được vào), trong khi Da-ca-ri-a là tư tế, là bậc cao niên, và sự kiện truyền tin xảy ra nơi thánh thiêng, thì không thể là chuyện đùa được, ấy thế mà Da-ca-ri-a lại nghi ngờ sứ điệp.  

- về thời điểm: xảy ra trong lúc dâng hương tế lễ Thiên Chúa, tại sao Da-ca-ri-a lại nghi ngờ. 

- về hoàn cảnh: Thánh Giuse đang trong tình thế khó xử, mẹ Maria nếu xin vâng sẽ phải đối diện với nguy cơ mất mạng và điều tiếng, còn Da-ca-ri-a là một tin vui cho ông, nhất là trước khi ông thắc mắc hoài nghi thì đã được sứ thần giải thích trước là Chúa đã nhận lời ông cầu nguyện.

- về người lãnh nhận: Một bác thợ mộc, một cô thôn nữ, thiết nghĩ không thể nào bằng một vị cao niên và là tư tế đạo đức hiểu biết Thánh Kinh hơn.

- về thái độ đón nhận: Đây là mấu chốt vấn đề mà chúng ta tìm hiểu tại sao Da-ca-ri-a bị câm. Da-ca-ri-a dám đòi một bằng chứng: “Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?” (Lc 1, 18). Như thế, Da-ca-ri-a đã tin theo lý luận của loài người, của khoa học hơn là quyền năng của Chúa. Ông cho rằng ông đã già, mà bà xã ông cũng đã quá già, nên Chúa cũng bó tay.

Lý do cuối cùng: có lẽ không phải vì ngài Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel quá nóng tính với vai vế cửa trên, nhưng tất cả là do sự sắp đặt của Thiên Chúa, để rồi đến ngày Gioan Tiền Hô chào đời, ông Da-ca-ri-a từ môi miệng bị câm, sẽ mở miệng nói tiên tri và chúc tụng Thiên Chúa.

TÓM LẠI: qua tường thuật Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta luôn sẵn sàng đón nhận Lời Chúa mà không so đo tính toán, bắt bẻ hoặc nghi ngờ. Nhất là đặt Lời Chúa làm kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy tư và hành động của mình, chứ đừng lấy lý luận khoa học để biện minh chống lại sứ điệp mà Chúa muốn gửi trao cho chúng ta qua Lời Chúa mỗi ngày. Cuối cùng, vì không tin Lời Chúa, nên môi miệng tâm hồn chúng ta đang bị câm, xin Chúa hãy mở miệng chúng ta, để chúng ta chúc tụng Người và đem Lời Chúa đến cho tha nhân.

*******

Lạy Chúa, miệng lưỡi chúng con như bị câm và không thể ca tụng Chúa vì chúng con còn nghi ngờ quyền năng của Chúa, niềm tin của chúng con chưa đủ lớn vì còn dựa theo tính thực nghiệm của khoa học. Xin Chúa đến thánh hóa môi miệng chúng con và ban ơn đức tin cho chúng con, để chúng con tuyên xưng và cao rao danh Chúa cho mọi người. Amen.

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 18.12


Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. (Mt 1, 21)

Suốt thời gian đầu Mùa Vọng, chúng ta được nghe nhiều về một nhân vật tiền hô cho Chúa Giê-su là Gioan Tẩy Giả, hôm nay, trong những ngày cận kề Lễ Giáng Sinh, Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta một nhân vật đặc biệt là thánh cả Giu-se, là người cha “pháp lý” của Chúa Giê-su trong sự kiện nhập thể, giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-su.

Thánh sử Matthêu giới thiệu nguồn gốc Chúa Giê-su thuộc dòng tộc Vua Đavit. Xét theo Thánh Kinh và nòi giống lưu truyền trong nhân loại, Chúa Giê-su nhập thể “làm người”, Người cần có một gia phả trong gia đình nhân loại. Đồng thời, để lời các ngôn sứ được ứng nghiệm nguồn gốc vương đế thuộc dòng tộc Đa-vít, mà trong đó, chính thánh Giu-se là con cháu của vua Đa-vít. Xét theo tính pháp lý, Chúa Giê-su cần một sự hợp pháp trong việc khai sinh, mẹ Maria cần có một người chồng pháp lý về mặt dân sự, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi đời sống tôn giáo lúc bấy giờ và bị người đời khinh miệt. Lại nữa, Chúa Giê-su và mẹ Ma-ri-a cần một mái ấm và một nơi nương tựa, cần được bảo vệ và chăm sóc, nhất là trong thời kỳ thơ ấu của Chúa Giê-su. Như vậy, vai trò của thánh Giu-se thật cao cả, dù chỉ là cha nuôi, nhưng thánh nhân đã chu toàn trách nhiệm dưỡng dục bảo vệ tính hợp pháp cho “bản tính nhân loại” của Chúa Giê-su, cũng như trở nên nơi nương tựa tuyệt vời cho mẹ Maria và Chúa Ngôi Hai.

Tin Mừng diễn tả sự kiện trăn trở của Thánh Cả Giuse (người công chính) khi chưa nhận được lời giải thích từ sứ thần Chúa. Đồng thời, Tin Mừng cũng giới thiệu thánh Giuse là người cha “hợp pháp” trong gia đình Thánh Gia. Trình thuật truyền tin cho Giuse cho ta thấy những phong tục về hôn nhân gia đình của dân Do thái thời xưa. Thời kỳ đính hôn được coi như đã chính thức thành vợ chồng về mặt luật pháp, muốn bỏ nhau phải ra toà xin ly dị; nếu vợ ngoại tình, phải bị xử ném đá theo luật. Bởi vậy khi biết Maria có thai trong thời kỳ đính hôn, trước khi về chung sống thì Giuse đã định chia tay với Maria cách âm thầm: Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên định tâm bỏ bà cách kín đáo”.(Mt 1, 19) Biết được ý định của Giuse, Sứ thần Chúa đã hiện đến báo mộng cho Giuse rằng: Này ông Giuse, là con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 20).  Chắc hẳn, Giuse cũng rất bối rối khi nghe tin Maria mang thai; Tin mừng không cho ta biết là trước khi sứ thần truyền tin cho Giuse thì Giuse đã biết Maria thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần hay chưa? Nhưng dù biết hay không biết thì chắc hẳn Giuse cũng rất băn khoăn, trăn trở trước ý định từ bỏ Maria. Giuse lại là người nhân hậu, có lòng thương xót, ông không muốn người phụ nữ mà ông rất tin tưởng, mến yêu và kính trọng lại bị xử theo luật Do thái là bị ném đá nên quyết định âm thầm ra đi. Thế nhưng khi sứ thần truyền tin và trao cho Giuse trách nhiệm đặt tên cũng như đón nhận Hài nhi vào dòng tộc của mình thì Giuse chỉ biết vâng phục: Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1, 21). Trước lời giải thích của sứ thần, Giuse đã sẵn sàng vâng phục ý Chúa, ông đặt mình vào bàn tay yêu thương của Thiên Chúa và sống tín thác vào Người trong một hoàn cảnh mà người khác không dễ gì vâng theo.: Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như lời sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1, 24-25). 

Cũng thế, trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những điều không mong muốn hay có những điều ta mong muốn nhưng lại xảy ra không đúng với ý của ta. Thật vậy, khi đứng trước những nghịch cảnh mà cuộc đời mang lại, nhiều lúc chúng ta thấy ngang trái, chúng ta không chấp nhận và càng không thể làm theo những điều mà ta thấy vô lý theo suy đoán của mình. Thế nhưng Thiên Chúa lại có thể vẽ những đường thẳng trên những nét cong, Người có thể làm cho mọi sự trở nên hoàn hảo cho những kẻ tin vào Người. Tóm lại, dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng luôn được mời gọi theo gương của Giuse: để mọi chuyện cho Chúa quyết định và làm theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa, dù biết rằng điều này chẳng dễ dàng thực hiện chút nào. Chúng ta được mời gọi sống theo mẫu gương Thánh Giuse trong tinh thần vâng phục Thánh ý Chúa với lòng khiêm tốn và nhiệt thành với những gì Chúa trao phó bằng chính lòng quảng đại của mình. Vâng theo Thánh ý Chúa cũng chính là từ bỏ những ý riêng của mình để thực hiện ý định của Chúa. Trong cuộc sống gia đình hiện nay, trước muôn vàn những khó khăn thử thách, những người Cha người Mẹ chúng ta có bao giờ sẵn sàng tín thác vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống như gương Thánh Giuse xưa? Trước những biến cố xảy ra cho mình, Giuse chỉ biết im lặng lắng nghe ý định của Thiên Chúa mà không hề nghi kỵ, tố cáo hay bêu xấu, ông cũng không hề trách móc hay lớn tiếng la mắng. Sống trong đời sống gia đình, sự không tin tưởng thường làm cho hạnh phúc gia đình đứng trước nguy cơ tan vỡ, dù chúng ta không ai hoàn hảo nhưng sự tin tưởng giúp cho đời sống gia đình trở nên tốt đẹp và hạnh phúc.

Suy gẫm Tin mừng hôm nay, chúng ta duyệt xét lại cuộc đời mình - chúng ta đã được hưởng nhờ ơn cứu chuộc của Thiên Chúa, được giải thoát khỏi gông cùm xích xiềng tội lỗi - chúng ta đã sống đáp lại tình thương của Chúa như thế nào? Một cuộc sống công chính luôn sẵn sàng vâng nghe và thực thi thánh ý  của Thiên Chúa, thực thi lời dạy của Đức Giê-su Ki-tô trong Tin mừng để được hạnh phúc đời đời hay chúng ta đã đánh mất niềm hy vọng và rời xa niềm tin vào Thiên Chúa – Đấng cứu độ chúng ta. Mùa vọng là mùa giúp Ki-tô hữu chúng ta sống lại niềm chờ mong ngóng đợi Đấng Thiên sai; là mùa hướng chúng ta đến một niềm hy vọng mới của một trang sử mới tràn ngập niềm vui vì sự ra đời của con Thiên Chúa – Đấng Cứu độ. Người đã đến cách đây hơn hai ngàn năm và Người vẫn còn đang đến trong từng cuộc đời. Người là niềm hy vọng của mỗi con người chúng ta, là Tin mừng cho chúng ta, và cũng là Tin mừng chúng ta cần phải loan báo cho anh em mình, những người còn xa lạ với Thiên Chúa. Như những tôi tớ trung thành, người con hiếu thảo, mỗi gia đình Ki-tô hữu chúng ta cũng viết lên trang sử cuộc đời mình bằng cách sống vâng nghe và tuân giữ lệnh Chúa truyền, sống tràn đầy niềm vui và hy vọng, sống yêu thương và phục vụ trong tin yêu, phó thác để làm nên một gia đình gương mẫu như thánh gia xưa hầu có thể trở thành chứng tá Tin mừng cứu độ trong cuộc sống. Có như thế, mỗi năm khi kỷ niệm mừng con Chúa ra đời là mỗi lần lòng chúng ta được tràn ngập niềm vui sướng và biết ơn Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương và vẫn còn yêu thương ta mãi mãi trong cuộc đời. Đấng đã làm nên lịch sử và luôn dẫn dắt quan phòng để lịch sử ấy hướng về cùng đích là chính Người.

*******

Lạy Chúa! Thời đại hôm nay đang sống như vắng bóng Thiên Chúa, thậm chí như Thiên Chúa đã chết rồi. Vì thế, hơn lúc nào hết, xin giúp chúng con biết trở thành những chứng nhân sống động của Tin Mừng, để nhờ đó mà mọi người nhận ra Đức Giêsu Nazareth chính là Đấng Emmanuel đã đến, đã sống và đang sống ở giữa nhân loại. Amen.

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B


Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói. (Ga 1, 23)

Trong phụng vụ Chúa nhật thứ nhất Mủa Vọng, Tin mừng Mac-cô đã ghi lại Lời Chúa mời gọi mọi người tỉnh thức: “Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết lúc nào chủ nhà trở về” (Mc 13, 36a). Sang đến Chúa nhật thứ II, tiếng hô của ngôn sứ I-sai-a trong hoang địa ngày xưa đã được Gio-an Tiền Hô thực hiện qua lời rao giảng: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” (Mc 1,3). Hôm nay trong phụng vụ Chúa Nhật thứ III, thánh Phao-lô đã khuyên các tín hữu chúng ta “Hãy vui lên, vì Chúa đã gần đến” (1 Tx 5,16). Tin Mừng Gio-an cũng giới thiệu cho chúng ta một mẫu gương chứng nhân của ánh sáng chân lý là Gio-an Tẩy Giả (Ga 1,6-8.19-28). Gio-an Tẩy Giả có sứ mạng đến trước dọn đường cho Đấng Ki-tô Cứu Thế, nên còn được gọi là Gio-an Tiền Hô hay gio-an Tẩy Giả. Gio-an là anh em bà con của Đức Giê-su. Ngay từ nhỏ, Gio-an đã từ giã cha mẹ để vào trong hoang địa, sống một cuộc đời đơn sơ khổ hạnh nêu gương sám hối từ bỏ tiện nghi vật chất cho mọi người. Trước khi Đức Giê-su xuất hiện, Gio--an đã đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Kèm theo lời giảng, Gio-an cũng làm phép rửa dìm các hối nhân dưới nước sông Gio-đan để tiếp nhận họ vào hàng ngũ những người đón ơn cứu độ của Đấng Thiên Sai sắp đến. Giới lãnh đạo tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem nghe biết công việc của Gio-an, liền sai một số người đến điều tra xem ông có phải là Đấng Thiên Sai không. Họ hỏi: "Ông là ai ?". Gio-an trả lời ông không phải là Ðấng Thiên Sai, cũng không phải ông Ê-li-a hay là ngôn sứ. Ông chỉ thừa nhận: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói” (Ga 1,23).

Bước vào Chúa nhật III Mùa Vọng, Lời Chúa hối thúc và chỉ cho chúng ta biết phải làm thế nào để có được niềm vui trong tâm hồn, thể hiện qua gương mặt, qua cách sống của mỗi người. Tiên tri Isaia cho thấy niềm vui đích thực không phải là những thứ niềm vui ồn ào đến từ bên ngoài, mà phải là niềm vui có Chúa trong tâm hồn. Vì chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải thoát tâm hồn con người khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, sự chiếm hữu của ma quỷ và đem đến cho cuộc đời chúng ta sự giải thoát, sự tự do. Tiên tri Isaia đã dùng nhiều hình ảnh để diễn tả niềm vui mà Thiên Chúa gieo vào trong tâm hồn và cuộc đời con người. Đó là niềm vui của sự tái sinh để sống một đời sống mới : như đất đai đâm chồi nảy lộc, như vườn cây nở hạt sinh mầm, và đó cũng là niềm vui giống như cô dâu, chú rể trong ngày vui tân hôn của mình. Tất cả những niềm vui đó không phải chỉ là niềm vui bên ngoài, mà niềm vui phát xuất từ bên trong vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương và biết mình được cứu độ. Thiên Chúa không mang đến cho con người niềm vui mau qua như một bữa tiệc sẽ tàn, nhưng Ngài mở ra một thời đại hồng ân, thời đại của ơn cứu độ. Tiên tri Isaia đã mô tả thời đại của Thiên Chúa là thời : Ngài sẽ loan báo tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương giập nát, ân xá cho những kẻ bị giam cầm, phóng thích cho tù nhân và công bố năm hồng ân của Thiên ChúaVậy, để có thể đón nhận được thời đại hồng ân cứu độ của Chúa, mỗi người phải chuẩn bị cho mình một tâm hồn, một thái độ xứng đáng. Gioan Tiền Hô chính là người được Chúa sai đến, ông vừa là người dọn đường, song ông cũng nêu gương chuẩn bị đón đợi Đấng Cứu thế. Gioan luôn giữ mình để không bị rơi vào ảo tưởng hay ngộ nhận về sứ mạng của mình. Ông xuất hiện vào một thời điểm hết sức đặc biệt khi dân Do Thái đang mong đợi có một người nào đó đứng lên khởi nghĩa chống lại người Roma. Tuy nhiên, dù được nhiều người ủng hộ, nhiều người đi theo và còn coi ông như là một đấng cứu thế, thì Gioan vẫn luôn giữ mình không để bị đẩy vào các xu hướng chính trị, bạo động, cũng không để dân chúng lầm tưởng mình là Đấng cứu thế. Trước sau, Gioan chỉ nhận mình là một tiếng kêu trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để cho Đức Chúa đi. Chỉ khi lòng mình ngay thẳng thì mình mới có thể làm cho con đường cuộc đời ngay thẳng ; ngược lại, khi lòng mình còn quanh co thì cuộc đời và hành động của mình cũng sẽ quanh co, gập ghềnh và có nhiều góc khuất. Hãy theo tấm gương của Gioan và học theo lối sống khiêm nhường của ông, can đảm nhìn nhận tình trạng tội lỗi và thiếu sót của mình. Khi dám nhìn thẳng vào con người của mình, dám đối diện với bản thân cùng với tiếng nói của lương tâm, Chúa sẽ chỉ cho chúng ta thấy cần phải dẹp bỏ những gì đang cản trở, đang làm cho tâm hồn chúng ta trở nên nặng nề, thiếu vắng niềm vui. Hãy nhận trách nhiệm của mình với gia đình, nhận ra những góc khuất, những chỗ tối tăm trong tâm hồn và gia đình, để xin Thánh Thần chiếu rọi ánh sáng niềm vui và bình an của Ngài xua đi những tối tăm ấy. Đồng thời, các bậc làm cha mẹ hãy tạo ra nhiều niềm vui và tiếng cười trong gia đình của mình qua các bữa ăn, qua các giờ kinh chung. Đừng dập tắt nụ cười và niềm vui của nhau. Anh Chị Em thân mến, tội lỗi, chơi bời, lười biếng làm cho chúng ta xa Chúa, xa nguồn vui. Vì thế, nó chỉ đem đến buồn chán và trống rỗng. Để có được niềm vui thực sự, mọi người đừng bao giờ dập tắt sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần sẽ nhắc nhở để chúng ta nhớ lại lời dạy bảo của Tin Mừng, nhắc chúng ta qua tiếng nói của lương tâm cũng như qua kinh nghiệm và sự dạy bảo của các bậc bề trên. Kế đến, đừng phung phí thời giờ, sức lực vào những chuyện vô ích, nhưng hãy biết dùng khả năng và tuổi trẻ của mình để làm nhiều điều tốt, điều có ích cho mình và cho mọi người. Sau cùng, hãy tránh xa điều xấu dưới mọi hình thức. Vì ngày nay, xã hội đánh lừa chúng ta bằng những lời hoa mỹ. Nó mặc cho điều xấu cái vỏ hào nhoáng để đánh bẫy chúng ta. Vì thế, hãy cảnh giác trước các điều xấu như sách báo phim ảnh, các trò chơi xấu, các nhóm người xấu, những tư tưởng xấu đang được tuyên truyền ca tụng. Đừng vì nhẹ dạ mà rơi vào bẫy của nó.

*********

Lạy Chúa! Chúng con đang sống trong những ngày Mùa Vọng, là thời gian chờ đón Chúa tái lâm kiến tạo một “Trời Mới Đất Mới”. Trong những ngày này, xin cho chúng con biết noi gương Gio-an Tẩy Giả: chuẩn bị đón Chúa đến bằng các việc hy sinh hãm mình biểu lộ tâm tình sám hối của chúng con, bằng những lời động viên giúp vợ chồng, con cái, bạn bè... sống tốt lành đạo đức hơn. Nhất là xin cho chúng con trở thành ánh sáng chiếu soi, khí cụ bình an của Chúa, luôn sống tin yêu phó thác vào Chúa quan phòng và sẵn sàng khiêm nhường phục vụ tha nhân, để nên dấu chỉ giúp người đời nhận biết tin theo Chúa.