Translate

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 21.12

Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? (Lc 1, 43)

Con Thiên Chúa, từ ngày truyền tin, lại còn là con Đức Maria. Hồng ân ấy, Đức Maria không giữ cho riêng mình, Người đã vội vã lên đường, đi thăm người bà con để chia sẻ cho nhau. Mở đầu bài Tin Mừng với từ “Hồi  ấy”, nghĩa là ngay sau biến cố Truyền Tin, ngay sau khi đón nhận Chúa Giêsu vào cung lòng, Đức Maria đã lên đường ngay. Mẹ vội vã lên đường như đây là một công việc gấp rút, cần phải thực hiện càng sớm, càng tốt. Đó là hình ảnh của một con người "đầy Chúa", sẵn sàng ra đi loan báo Tin Mừng, loan báo về Tình Yêu Thiên Chúa thực hiện trong Đức Kitô. Đúng thế, Mẹ đang cưu mang Đấng Cứu Tinh- một niềm vui lớn cho dân Israel đang trông chờ, nên Mẹ không chần chừ, không lưỡng lự mà đon đả lên đường đem Tin Mừng cho người chị họ của mình. Động lực thúc đẩy Mẹ không phải vì Mẹ tò mò xem Lời Thiên sứ nói về Êlisabét có đúng không? Cũng không phải mau mắn đến giúp bà chị, nhưng vì Mẹ tràn đầy niềm vui Tin Mừng, nên tức khắc cần chia sẻ ngay cho những người thân cận của Mẹ. Đây là một cách truyền giáo mà người Kitô hữu chúng ta cần học.

Sự xuất hiện của Mẹ sau tiếng chào đã làm cho bà Elisabeth được tràn đầy Thánh Thần và Gioan Tẩy Giả được cứu độ. Chúng ta hình dung ra ngay lúc này đây qua bài Tin Mừng, cảnh hai con người tràn ngập niềm vui: Niềm vui Mẹ đem Chúa đến cho nhà Giacaria, niềm vui của bà Eliazabeth phải kêu lên, niềm vui của Gioan trong bụng mẹ phải nhảy lên vui sướng, niềm vui của hai bà mẹ hạnh phúc vì đều đang được mang trong mình một mầm sống mới. Tuy nhiên, niềm vui chỉ thật sự viên mãn khi biết chia sẻ niềm vui, và khi chia sẻ thì cũng được nhận lại niềm vui để nên phong phú và trọn vẹn. Mẹ Maria đem niềm vui đến chia sẻ cho bà Elizabeth, thì cùng lúc mẹ đón nhận niềm vui vì Chúa đã thương cất đi nỗi nhục nhằn son sẻ của bà chị họ. Niềm vui càng nên trọn vẹn khi được cụ thể hóa bằng lời ca ngợi Chúa và phục vụ nhau. Mẹ Maria đã thốt lên bài ca Magnificat bất hủ và tận tình phục vụ bà chị họ Elizabeth trong thời kỳ thai nghén. Một tấm gương tuyệt diệu của “Bà Chúa” đối với con người. Quả thế, dù được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ vì đã cưu mang Con Thiên Chúa, cưu mang Đấng Cứu Thế mà cả dân Israel và muôn dân trông đợi, nhưng Đức Maria đã không tự coi mình cao trọng trong phẩm vị “Hoàng Thái Hậu” mà hạ mình để phục vụ, mà người đầu tiên được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến phục vụ là bà Elisabeth. Nếu Đức Giêsu là Chúa và là Thầy mà đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ, thì trước đó chính Mẹ Người là Mẹ Thiên Chúa đã hạ mình phục vụ một thụ tạo, và với một công việc rất thấp hèn suốt một thời gian ba tháng theo lời kể của Thánh sử Luca (x. Lc 1, 56).

Ngoài ra, biến cố gặp gỡ giữa Maria và Elisabeth đã làm nổi bật lên tầm quan trọng của đức tin trong việc đón nhận, gặp gỡ và trao ban. Quả thế, sự gặp gỡ là khởi đầu cho những giao ước và nối kết các mối liên hệ trong cuộc sống. Muốn gặp gỡ đòi hỏi phải ra khỏi mình, ra khỏi chính nơi yên ổn của mình, ra khỏi những vướng bận ràng buộc mình để đến với tha nhân. Chính vì vậy, mà với khoảng cách giữa Nazareth và Ain Carem cả trăm cây số, nhưng vì tình yêu và muốn đem Chúa đến cho người chị họ, nên Mẹ Maria đã không quản ngại ra đi để gặp gỡ bà chị, dù khi đi phải chấp nhận nhiều từ bỏ đầy rủi ro. Nhưng theo Tin Mừng, để có được cuộc gặp gỡ này, đòi hỏi một sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, từ đó mới dám ra đi, mới dám dấn thân không ngại rủi ro đường xa nguy hiểm. Tin rằng Chúa đã thực hiện cho mình và tin rằng Chúa cũng đã rất thương đối tượng mình gặp gỡ. Thật vậy, lúc nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, Đức Maria cũng chưa biết Thiên Chúa sẽ đưa mình tới đâu, nhưng Đức Maria chắc chắn tin vào Thiên Chúa và chương trình của Người. Chính lòng tin sắt đá ấy đã làm cho Đức Maria xứng đáng được đón nhận Chúa Giêsu Kitô vào trong dạ mình, thông chia cho Người bản tính nhân loại để Người trở nên một phần tử loài người mới, và bắt đầu từ đó, một nhân loại mới đã được thai sinh. Chức vụ làm mẹ này là kết quả của lòng tin nơi Đức Maria vào Thiên Chúa. Đức Maria không những được tôn vinh về chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế về mặt thể xác, nhưng Mẹ còn cao trọng hơn mọi người về mặt đức tin. Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói: “Đức Maria là người môn đệ đầu tiên trọn hảo nhất của Đức Kitô và trọn hảo nhất về mặt đức tin”. Nếu Abraham là “tổ phụ những kẻ tin” (x. Rm 4, 12), thì Đức Maria là hiện thân sự hoàn hảo của đức tin. Abraham ra đi còn có một lời hứa “đất và dân”; Đức Maria đón nhận trách nhiệm trong một niềm tin phó thác mạng sống mình vào tay Thiên Chúa. Dù không có bất cứ một lời hứa nào, Đức Maria vẫn phó thác và đi hết con đường vâng phục của mình trên trần gian. Thiên Chúa còn sai sứ thần nắm bàn tay sát tế của Abraham để khỏi hạ gươm giết con một mình, còn Đức Maria không thấy bàn tay nào ngăn cản các lý hình giết chết Người Con yêu dấu.

*******

Lạy Chúa, như Mẹ Maria đã chia sẻ vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô trong tất cả chiều kích cuộc đời trần thế của Người, đặc biệt trong sự gặp gỡ và phục vụ. Xin cho chúng con trong cuộc lữ hành đức tin cũng biết noi gương Mẹ Maria, là sẵn sàng ra khỏi mình để đến gặp gỡ tha nhân, để phục vụ và trao ban Chúa cho họ. Amen.

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 20.12


Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” (Lc 1, 35)

Trong những ngày cuối của Mùa Vọng này, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Tin Mừng về biến cố truyền tin, để chúng ta hiểu được rằng đã đến lúc Ngôi Lời Thiên Chúa giáng sinh làm người, trong cung lòng của Mẹ Maria. Đây là cuộc truyền tin thứ ba sau hai cuộc truyền tin cho thánh Giuse và ông Dacaria, Thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến với Mẹ Maria và gửi cho Mẹ một sứ điệp quan trọng từ trời cao, tuy nhiên, cuộc truyền tin này mang một ý nghĩa sống còn khi tạo vật nín thở chờ tiếng “xin vâng” của Đức Maria để Con Thiên Chúa nhập thể đi vào trần gian.

Lời “xin vâng” không chỉ nói lên sự khiêm nhường và vâng phục cách đơn thuần, nhưng còn hơn thế nữa, Người xác tín và hoàn toàn đồng ý với chương trình của Thiên Chúa, nghĩa là “ngay bây giờ sẽ thụ thai”, mà Giuse không biết gì cả. Khi chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, thụ thai để làm Mẹ Đấng Cứu Độ, Đức Maria biết rất rõ sự nguy hiểm đang chờ đón mình là có thể mất mạng vì luật Môsê sẽ ném đá thiếu nữ đã đính hôn mà có thai ngoài hôn nhân (x. Đnl 22, 22- 23). Ngoài ra, tiếng “xin vâng” còn là một tiếng can đảm vâng phục, tin tưởng phó thác cả mạng sống vào tay Thiên Chúa và tiếng “xin vâng” đó sẽ theo suốt cuộc đời của Đức Maria cho đến cây thập giá. Âm thầm chấp nhận tất cả, vì chương trình của Thiên Chúa. Thật vậy, Đức Maria nhận ra ý muốn của Đấng Toàn Năng trong lời thiên sứ và tùng phục quyền năng của Người, Mẹ đáp lại: “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).  Như thế, Mẹ đã ưng thuận sự lựa chọn của Thiên Chúa, để nhờ Chúa Thánh Thần, trở thành Mẹ của Thiên Chúa, vì Mẹ được hướng dẫn bởi tình yêu hoàn toàn “tận hiến” cho Thiên Chúa một con người nhân bản, để cộng tác trọn vẹn mối hiệp thông vào chương trình cứu độ.  Sau hết, qua lời “xin vâng”, Mẹ Maria đưa ra cho chúng ta xem bức tranh của niềm tin, đó là một lời đáp trả ân sủng của Thiên Chúa. Đức tin không phải là một cái gì đó chúng ta sở hữu, nhưng một cái gì đó sở hữu chúng ta. Đức tin là lời đáp trả sự vâng phục đối với Thiên Chúa được biểu lộ trong cuộc sống của chúng ta. Trong Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải có kinh nghiệm về Thiên Chúa như tình yêu và sự cho đi; đó là ân sủng. Ân sủng là tình yêu chăm sóc của Thiên Chúa đã làm cho chúng ta. Tình yêu này không phải là hời hợt và tình cảm ủy mị, nhưng là cả một kế hoạch yêu thương Thiên Chúa ban cho nhân loại, qua biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Ngoài ra, đức tin còn giúp chúng ta khám phá ra rằng: tất cả chúng ta được Thiên Chúa yêu thương, được Ngài tuyển chọn, và được Ngài ban phúc lành.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu đúng trong sự “xin vâng” của Đức Maria chất chứa hoàn toàn với tất cả ý thức và tự do, Người được thiên sứ Gabriel giải thích ý nghĩa công trình của Thiên Chúa muốn được thực hiện nơi con người của Mẹ. Thật vậy, ý định của Thiên Chúa luôn được thi hành và chương trình của Thiên Chúa luôn được thực hiện, nhưng không phải bằng cách cưỡng bách hay ép buộc. Khi chương trình Thiên Chúa liên can đến con người mà Thiên Chúa trang bị cho được tự do, thì có thể nói, chương trình ấy phần nào lệ thuộc vào sự cộng tác của con người. Nếu Thiên Chúa sử dụng con người như những “con tốt” trên bàn cờ hay như những vật vô tri trong vũ trụ, thì mọi sự sẽ diễn ra trong trật tự và ổn định, nhưng Thiên Chúa đã không muốn thế, vì như vậy sẽ tước đi sự tự do -điều quí giá nhất trong tình yêu- con người, làm cho sự đáp trả mất đi ý nghĩa và giá trị của nó. Cũng thế, Đức Maria, với cả “nhân vị” của mình, Người đã thưa tiếng “xin vâng” với sự cộng tác cao nhất, trong sự tự do và trách nhiệm, cùng với một tình yêu không mức độ. Như vậy, qua lời “xin vâng”, Đức Maria để lại cho chúng ta một mẫu gương chói ngời về sự vâng phục và tín thác hoàn toàn trong tay Thiên Chúa, với cả ý thức tự do tận hiến cho Chúa. Mẹ trở thành một khí cụ tuyệt hảo trong tay Thiên Chúa để ban ơn cứu độ cho nhân loại. Mẹ đã qui về Thiên Chúa tất cả mọi đặc ân và vinh quang nhận được, khiêm tốn nhìn nhận mình là “nữ tỳ hèn mọn” và tất cả là do Thiên Chúa. Đặc biệt Mẹ đã can đảm thưa tiếng “xin vâng” để suốt cuộc đời âm thầm chấp nhận phó thác mình cho Thiên Chúa hầu cộng tác cứu độ loài người. 

Xin mẹ cầu bầu cho chúng ta cũng được tràn đầy ân sủng, khiêm tốn và xin vâng, để trở thành khí cụ trong bàn tay Thiên Chúa hầu đem Tin Mừng đến cho mọi người. Xin cho chúng ta luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn qui hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn.

 *********

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết noi gương Mẹ Maria, luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn qui hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn. Amen.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 19.12


Ông phải đặt tên cho con là Gio-an. (Lc 1, 13b)

Bắt đầu vào những ngày cao điểm cận kề lễ Giáng Sinh (17-24/12), Phụng Vụ của Giáo Hội lần lượt cho chúng ta nghe liên tiếp 3 cuộc truyền tin: truyền tin cho thánh Giuse ngay trong giấc mộng ban đêm, truyền tin cho ông Dacaria lúc dâng hương trong đền thờ và truyền tin cho Đức Maria lúc cầu nguyện tại nhà riêng. Ba cuộc truyền tin xảy ra với ba thời điểm khác nhau, không gian khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, sứ điệp khác nhau, tuổi đời khác nhau và sự đáp trả cũng khác nhau. Nhưng mục đích chung cuối cùng là chuẩn bị cho Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế cứu đời.

Hôm qua chúng ta đã được nghe về cuộc truyền tin cho thánh cả Giuse, với sứ điệp dành cho ngài là làm cha nuôi Chúa Giêsu. Thánh Giuse đã đáp trả với một sự thinh lặng đón nhận, đúng như bản tính âm thầm và chiêm niệm của ngài, đến độ toàn bộ 4 Tin Mừng không gặp thấy một lời nào của thánh nhân. Thánh nhân không vặn hỏi, không đặt vấn đề và không ra điều kiện gì cả, mặc dù ngài đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Hôm nay, cuộc truyền tin dành cho ông Da-ca-ri-a, là một tư tế, với sứ điệp là làm cha của Gioan - Vị Tiền Hô của Chúa Giêsu. Da-ca-ri-a lắng nghe sứ điệp từ thiên thần Gabriel với một sự nghi hoặc theo cách suy nghĩ theo kiểu khoa học của ông.

Có người cho rằng, hơi bất công cho ông so với Đức Mẹ còn được đối đáp vài câu, trong khi ông Da-ca-ri-a nói được một câu là bị câm ngay. Thật ra, như đã nói ở đầu bài chia sẻ, chúng ta cần phải đặt sự kiện vào không gian, thời điểm, hoàn cảnh, vị thế của thụ nhân, nội dung sứ điệp và lời vấn đáp thì mới có một nhận xét chính xác và rút ra được bài học gì cho bản thân.

- về không gian: việc truyền tin cho Da-ca-ri-a không phải xảy ra trong giấc mơ như với Thánh Giuse, cũng không phải nơi căn phòng nghèo nàn Nazareth như Đức Mẹ, mà là nơi linh thánh nhất của đền thờ (chỉ những tư tế trúng thăm mới được vào), trong khi Da-ca-ri-a là tư tế, là bậc cao niên, và sự kiện truyền tin xảy ra nơi thánh thiêng, thì không thể là chuyện đùa được, ấy thế mà Da-ca-ri-a lại nghi ngờ sứ điệp.  

- về thời điểm: xảy ra trong lúc dâng hương tế lễ Thiên Chúa, tại sao Da-ca-ri-a lại nghi ngờ. 

- về hoàn cảnh: Thánh Giuse đang trong tình thế khó xử, mẹ Maria nếu xin vâng sẽ phải đối diện với nguy cơ mất mạng và điều tiếng, còn Da-ca-ri-a là một tin vui cho ông, nhất là trước khi ông thắc mắc hoài nghi thì đã được sứ thần giải thích trước là Chúa đã nhận lời ông cầu nguyện.

- về người lãnh nhận: Một bác thợ mộc, một cô thôn nữ, thiết nghĩ không thể nào bằng một vị cao niên và là tư tế đạo đức hiểu biết Thánh Kinh hơn.

- về thái độ đón nhận: Đây là mấu chốt vấn đề mà chúng ta tìm hiểu tại sao Da-ca-ri-a bị câm. Da-ca-ri-a dám đòi một bằng chứng: “Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?” (Lc 1, 18). Như thế, Da-ca-ri-a đã tin theo lý luận của loài người, của khoa học hơn là quyền năng của Chúa. Ông cho rằng ông đã già, mà bà xã ông cũng đã quá già, nên Chúa cũng bó tay.

Lý do cuối cùng: có lẽ không phải vì ngài Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel quá nóng tính với vai vế cửa trên, nhưng tất cả là do sự sắp đặt của Thiên Chúa, để rồi đến ngày Gioan Tiền Hô chào đời, ông Da-ca-ri-a từ môi miệng bị câm, sẽ mở miệng nói tiên tri và chúc tụng Thiên Chúa.

TÓM LẠI: qua tường thuật Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta luôn sẵn sàng đón nhận Lời Chúa mà không so đo tính toán, bắt bẻ hoặc nghi ngờ. Nhất là đặt Lời Chúa làm kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy tư và hành động của mình, chứ đừng lấy lý luận khoa học để biện minh chống lại sứ điệp mà Chúa muốn gửi trao cho chúng ta qua Lời Chúa mỗi ngày. Cuối cùng, vì không tin Lời Chúa, nên môi miệng tâm hồn chúng ta đang bị câm, xin Chúa hãy mở miệng chúng ta, để chúng ta chúc tụng Người và đem Lời Chúa đến cho tha nhân.

*******

Lạy Chúa, miệng lưỡi chúng con như bị câm và không thể ca tụng Chúa vì chúng con còn nghi ngờ quyền năng của Chúa, niềm tin của chúng con chưa đủ lớn vì còn dựa theo tính thực nghiệm của khoa học. Xin Chúa đến thánh hóa môi miệng chúng con và ban ơn đức tin cho chúng con, để chúng con tuyên xưng và cao rao danh Chúa cho mọi người. Amen.

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2017

LỄ THEO NGÀY 18.12


Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. (Mt 1, 21)

Suốt thời gian đầu Mùa Vọng, chúng ta được nghe nhiều về một nhân vật tiền hô cho Chúa Giê-su là Gioan Tẩy Giả, hôm nay, trong những ngày cận kề Lễ Giáng Sinh, Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta một nhân vật đặc biệt là thánh cả Giu-se, là người cha “pháp lý” của Chúa Giê-su trong sự kiện nhập thể, giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-su.

Thánh sử Matthêu giới thiệu nguồn gốc Chúa Giê-su thuộc dòng tộc Vua Đavit. Xét theo Thánh Kinh và nòi giống lưu truyền trong nhân loại, Chúa Giê-su nhập thể “làm người”, Người cần có một gia phả trong gia đình nhân loại. Đồng thời, để lời các ngôn sứ được ứng nghiệm nguồn gốc vương đế thuộc dòng tộc Đa-vít, mà trong đó, chính thánh Giu-se là con cháu của vua Đa-vít. Xét theo tính pháp lý, Chúa Giê-su cần một sự hợp pháp trong việc khai sinh, mẹ Maria cần có một người chồng pháp lý về mặt dân sự, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi đời sống tôn giáo lúc bấy giờ và bị người đời khinh miệt. Lại nữa, Chúa Giê-su và mẹ Ma-ri-a cần một mái ấm và một nơi nương tựa, cần được bảo vệ và chăm sóc, nhất là trong thời kỳ thơ ấu của Chúa Giê-su. Như vậy, vai trò của thánh Giu-se thật cao cả, dù chỉ là cha nuôi, nhưng thánh nhân đã chu toàn trách nhiệm dưỡng dục bảo vệ tính hợp pháp cho “bản tính nhân loại” của Chúa Giê-su, cũng như trở nên nơi nương tựa tuyệt vời cho mẹ Maria và Chúa Ngôi Hai.

Tin Mừng diễn tả sự kiện trăn trở của Thánh Cả Giuse (người công chính) khi chưa nhận được lời giải thích từ sứ thần Chúa. Đồng thời, Tin Mừng cũng giới thiệu thánh Giuse là người cha “hợp pháp” trong gia đình Thánh Gia. Trình thuật truyền tin cho Giuse cho ta thấy những phong tục về hôn nhân gia đình của dân Do thái thời xưa. Thời kỳ đính hôn được coi như đã chính thức thành vợ chồng về mặt luật pháp, muốn bỏ nhau phải ra toà xin ly dị; nếu vợ ngoại tình, phải bị xử ném đá theo luật. Bởi vậy khi biết Maria có thai trong thời kỳ đính hôn, trước khi về chung sống thì Giuse đã định chia tay với Maria cách âm thầm: Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên định tâm bỏ bà cách kín đáo”.(Mt 1, 19) Biết được ý định của Giuse, Sứ thần Chúa đã hiện đến báo mộng cho Giuse rằng: Này ông Giuse, là con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 20).  Chắc hẳn, Giuse cũng rất bối rối khi nghe tin Maria mang thai; Tin mừng không cho ta biết là trước khi sứ thần truyền tin cho Giuse thì Giuse đã biết Maria thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần hay chưa? Nhưng dù biết hay không biết thì chắc hẳn Giuse cũng rất băn khoăn, trăn trở trước ý định từ bỏ Maria. Giuse lại là người nhân hậu, có lòng thương xót, ông không muốn người phụ nữ mà ông rất tin tưởng, mến yêu và kính trọng lại bị xử theo luật Do thái là bị ném đá nên quyết định âm thầm ra đi. Thế nhưng khi sứ thần truyền tin và trao cho Giuse trách nhiệm đặt tên cũng như đón nhận Hài nhi vào dòng tộc của mình thì Giuse chỉ biết vâng phục: Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1, 21). Trước lời giải thích của sứ thần, Giuse đã sẵn sàng vâng phục ý Chúa, ông đặt mình vào bàn tay yêu thương của Thiên Chúa và sống tín thác vào Người trong một hoàn cảnh mà người khác không dễ gì vâng theo.: Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như lời sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1, 24-25). 

Cũng thế, trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những điều không mong muốn hay có những điều ta mong muốn nhưng lại xảy ra không đúng với ý của ta. Thật vậy, khi đứng trước những nghịch cảnh mà cuộc đời mang lại, nhiều lúc chúng ta thấy ngang trái, chúng ta không chấp nhận và càng không thể làm theo những điều mà ta thấy vô lý theo suy đoán của mình. Thế nhưng Thiên Chúa lại có thể vẽ những đường thẳng trên những nét cong, Người có thể làm cho mọi sự trở nên hoàn hảo cho những kẻ tin vào Người. Tóm lại, dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng luôn được mời gọi theo gương của Giuse: để mọi chuyện cho Chúa quyết định và làm theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa, dù biết rằng điều này chẳng dễ dàng thực hiện chút nào. Chúng ta được mời gọi sống theo mẫu gương Thánh Giuse trong tinh thần vâng phục Thánh ý Chúa với lòng khiêm tốn và nhiệt thành với những gì Chúa trao phó bằng chính lòng quảng đại của mình. Vâng theo Thánh ý Chúa cũng chính là từ bỏ những ý riêng của mình để thực hiện ý định của Chúa. Trong cuộc sống gia đình hiện nay, trước muôn vàn những khó khăn thử thách, những người Cha người Mẹ chúng ta có bao giờ sẵn sàng tín thác vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống như gương Thánh Giuse xưa? Trước những biến cố xảy ra cho mình, Giuse chỉ biết im lặng lắng nghe ý định của Thiên Chúa mà không hề nghi kỵ, tố cáo hay bêu xấu, ông cũng không hề trách móc hay lớn tiếng la mắng. Sống trong đời sống gia đình, sự không tin tưởng thường làm cho hạnh phúc gia đình đứng trước nguy cơ tan vỡ, dù chúng ta không ai hoàn hảo nhưng sự tin tưởng giúp cho đời sống gia đình trở nên tốt đẹp và hạnh phúc.

Suy gẫm Tin mừng hôm nay, chúng ta duyệt xét lại cuộc đời mình - chúng ta đã được hưởng nhờ ơn cứu chuộc của Thiên Chúa, được giải thoát khỏi gông cùm xích xiềng tội lỗi - chúng ta đã sống đáp lại tình thương của Chúa như thế nào? Một cuộc sống công chính luôn sẵn sàng vâng nghe và thực thi thánh ý  của Thiên Chúa, thực thi lời dạy của Đức Giê-su Ki-tô trong Tin mừng để được hạnh phúc đời đời hay chúng ta đã đánh mất niềm hy vọng và rời xa niềm tin vào Thiên Chúa – Đấng cứu độ chúng ta. Mùa vọng là mùa giúp Ki-tô hữu chúng ta sống lại niềm chờ mong ngóng đợi Đấng Thiên sai; là mùa hướng chúng ta đến một niềm hy vọng mới của một trang sử mới tràn ngập niềm vui vì sự ra đời của con Thiên Chúa – Đấng Cứu độ. Người đã đến cách đây hơn hai ngàn năm và Người vẫn còn đang đến trong từng cuộc đời. Người là niềm hy vọng của mỗi con người chúng ta, là Tin mừng cho chúng ta, và cũng là Tin mừng chúng ta cần phải loan báo cho anh em mình, những người còn xa lạ với Thiên Chúa. Như những tôi tớ trung thành, người con hiếu thảo, mỗi gia đình Ki-tô hữu chúng ta cũng viết lên trang sử cuộc đời mình bằng cách sống vâng nghe và tuân giữ lệnh Chúa truyền, sống tràn đầy niềm vui và hy vọng, sống yêu thương và phục vụ trong tin yêu, phó thác để làm nên một gia đình gương mẫu như thánh gia xưa hầu có thể trở thành chứng tá Tin mừng cứu độ trong cuộc sống. Có như thế, mỗi năm khi kỷ niệm mừng con Chúa ra đời là mỗi lần lòng chúng ta được tràn ngập niềm vui sướng và biết ơn Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương và vẫn còn yêu thương ta mãi mãi trong cuộc đời. Đấng đã làm nên lịch sử và luôn dẫn dắt quan phòng để lịch sử ấy hướng về cùng đích là chính Người.

*******

Lạy Chúa! Thời đại hôm nay đang sống như vắng bóng Thiên Chúa, thậm chí như Thiên Chúa đã chết rồi. Vì thế, hơn lúc nào hết, xin giúp chúng con biết trở thành những chứng nhân sống động của Tin Mừng, để nhờ đó mà mọi người nhận ra Đức Giêsu Nazareth chính là Đấng Emmanuel đã đến, đã sống và đang sống ở giữa nhân loại. Amen.

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B


Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói. (Ga 1, 23)

Trong phụng vụ Chúa nhật thứ nhất Mủa Vọng, Tin mừng Mac-cô đã ghi lại Lời Chúa mời gọi mọi người tỉnh thức: “Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết lúc nào chủ nhà trở về” (Mc 13, 36a). Sang đến Chúa nhật thứ II, tiếng hô của ngôn sứ I-sai-a trong hoang địa ngày xưa đã được Gio-an Tiền Hô thực hiện qua lời rao giảng: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” (Mc 1,3). Hôm nay trong phụng vụ Chúa Nhật thứ III, thánh Phao-lô đã khuyên các tín hữu chúng ta “Hãy vui lên, vì Chúa đã gần đến” (1 Tx 5,16). Tin Mừng Gio-an cũng giới thiệu cho chúng ta một mẫu gương chứng nhân của ánh sáng chân lý là Gio-an Tẩy Giả (Ga 1,6-8.19-28). Gio-an Tẩy Giả có sứ mạng đến trước dọn đường cho Đấng Ki-tô Cứu Thế, nên còn được gọi là Gio-an Tiền Hô hay gio-an Tẩy Giả. Gio-an là anh em bà con của Đức Giê-su. Ngay từ nhỏ, Gio-an đã từ giã cha mẹ để vào trong hoang địa, sống một cuộc đời đơn sơ khổ hạnh nêu gương sám hối từ bỏ tiện nghi vật chất cho mọi người. Trước khi Đức Giê-su xuất hiện, Gio--an đã đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Kèm theo lời giảng, Gio-an cũng làm phép rửa dìm các hối nhân dưới nước sông Gio-đan để tiếp nhận họ vào hàng ngũ những người đón ơn cứu độ của Đấng Thiên Sai sắp đến. Giới lãnh đạo tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem nghe biết công việc của Gio-an, liền sai một số người đến điều tra xem ông có phải là Đấng Thiên Sai không. Họ hỏi: "Ông là ai ?". Gio-an trả lời ông không phải là Ðấng Thiên Sai, cũng không phải ông Ê-li-a hay là ngôn sứ. Ông chỉ thừa nhận: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói” (Ga 1,23).

Bước vào Chúa nhật III Mùa Vọng, Lời Chúa hối thúc và chỉ cho chúng ta biết phải làm thế nào để có được niềm vui trong tâm hồn, thể hiện qua gương mặt, qua cách sống của mỗi người. Tiên tri Isaia cho thấy niềm vui đích thực không phải là những thứ niềm vui ồn ào đến từ bên ngoài, mà phải là niềm vui có Chúa trong tâm hồn. Vì chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải thoát tâm hồn con người khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, sự chiếm hữu của ma quỷ và đem đến cho cuộc đời chúng ta sự giải thoát, sự tự do. Tiên tri Isaia đã dùng nhiều hình ảnh để diễn tả niềm vui mà Thiên Chúa gieo vào trong tâm hồn và cuộc đời con người. Đó là niềm vui của sự tái sinh để sống một đời sống mới : như đất đai đâm chồi nảy lộc, như vườn cây nở hạt sinh mầm, và đó cũng là niềm vui giống như cô dâu, chú rể trong ngày vui tân hôn của mình. Tất cả những niềm vui đó không phải chỉ là niềm vui bên ngoài, mà niềm vui phát xuất từ bên trong vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương và biết mình được cứu độ. Thiên Chúa không mang đến cho con người niềm vui mau qua như một bữa tiệc sẽ tàn, nhưng Ngài mở ra một thời đại hồng ân, thời đại của ơn cứu độ. Tiên tri Isaia đã mô tả thời đại của Thiên Chúa là thời : Ngài sẽ loan báo tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương giập nát, ân xá cho những kẻ bị giam cầm, phóng thích cho tù nhân và công bố năm hồng ân của Thiên ChúaVậy, để có thể đón nhận được thời đại hồng ân cứu độ của Chúa, mỗi người phải chuẩn bị cho mình một tâm hồn, một thái độ xứng đáng. Gioan Tiền Hô chính là người được Chúa sai đến, ông vừa là người dọn đường, song ông cũng nêu gương chuẩn bị đón đợi Đấng Cứu thế. Gioan luôn giữ mình để không bị rơi vào ảo tưởng hay ngộ nhận về sứ mạng của mình. Ông xuất hiện vào một thời điểm hết sức đặc biệt khi dân Do Thái đang mong đợi có một người nào đó đứng lên khởi nghĩa chống lại người Roma. Tuy nhiên, dù được nhiều người ủng hộ, nhiều người đi theo và còn coi ông như là một đấng cứu thế, thì Gioan vẫn luôn giữ mình không để bị đẩy vào các xu hướng chính trị, bạo động, cũng không để dân chúng lầm tưởng mình là Đấng cứu thế. Trước sau, Gioan chỉ nhận mình là một tiếng kêu trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để cho Đức Chúa đi. Chỉ khi lòng mình ngay thẳng thì mình mới có thể làm cho con đường cuộc đời ngay thẳng ; ngược lại, khi lòng mình còn quanh co thì cuộc đời và hành động của mình cũng sẽ quanh co, gập ghềnh và có nhiều góc khuất. Hãy theo tấm gương của Gioan và học theo lối sống khiêm nhường của ông, can đảm nhìn nhận tình trạng tội lỗi và thiếu sót của mình. Khi dám nhìn thẳng vào con người của mình, dám đối diện với bản thân cùng với tiếng nói của lương tâm, Chúa sẽ chỉ cho chúng ta thấy cần phải dẹp bỏ những gì đang cản trở, đang làm cho tâm hồn chúng ta trở nên nặng nề, thiếu vắng niềm vui. Hãy nhận trách nhiệm của mình với gia đình, nhận ra những góc khuất, những chỗ tối tăm trong tâm hồn và gia đình, để xin Thánh Thần chiếu rọi ánh sáng niềm vui và bình an của Ngài xua đi những tối tăm ấy. Đồng thời, các bậc làm cha mẹ hãy tạo ra nhiều niềm vui và tiếng cười trong gia đình của mình qua các bữa ăn, qua các giờ kinh chung. Đừng dập tắt nụ cười và niềm vui của nhau. Anh Chị Em thân mến, tội lỗi, chơi bời, lười biếng làm cho chúng ta xa Chúa, xa nguồn vui. Vì thế, nó chỉ đem đến buồn chán và trống rỗng. Để có được niềm vui thực sự, mọi người đừng bao giờ dập tắt sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần sẽ nhắc nhở để chúng ta nhớ lại lời dạy bảo của Tin Mừng, nhắc chúng ta qua tiếng nói của lương tâm cũng như qua kinh nghiệm và sự dạy bảo của các bậc bề trên. Kế đến, đừng phung phí thời giờ, sức lực vào những chuyện vô ích, nhưng hãy biết dùng khả năng và tuổi trẻ của mình để làm nhiều điều tốt, điều có ích cho mình và cho mọi người. Sau cùng, hãy tránh xa điều xấu dưới mọi hình thức. Vì ngày nay, xã hội đánh lừa chúng ta bằng những lời hoa mỹ. Nó mặc cho điều xấu cái vỏ hào nhoáng để đánh bẫy chúng ta. Vì thế, hãy cảnh giác trước các điều xấu như sách báo phim ảnh, các trò chơi xấu, các nhóm người xấu, những tư tưởng xấu đang được tuyên truyền ca tụng. Đừng vì nhẹ dạ mà rơi vào bẫy của nó.

*********

Lạy Chúa! Chúng con đang sống trong những ngày Mùa Vọng, là thời gian chờ đón Chúa tái lâm kiến tạo một “Trời Mới Đất Mới”. Trong những ngày này, xin cho chúng con biết noi gương Gio-an Tẩy Giả: chuẩn bị đón Chúa đến bằng các việc hy sinh hãm mình biểu lộ tâm tình sám hối của chúng con, bằng những lời động viên giúp vợ chồng, con cái, bạn bè... sống tốt lành đạo đức hơn. Nhất là xin cho chúng con trở thành ánh sáng chiếu soi, khí cụ bình an của Chúa, luôn sống tin yêu phó thác vào Chúa quan phòng và sẵn sàng khiêm nhường phục vụ tha nhân, để nên dấu chỉ giúp người đời nhận biết tin theo Chúa.

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

THỨ BẢY TUẦN II MÙA VỌNG


Ông Ê-li-a đã đến rồi và họ không nhận ra ông, nhưng đã xử với ông theo ý họ muốn. Con Người cũng sẽ phải đau khổ vì họ như thế. (Mt 17, 12)

Trong cuộc sống, mỗi người thường ấp ủ một cho mình một ước mơ. Có người mơ ước một cuộc sống hạnh phúc tận hưởng đầy đủ tiện nghi vật chất. Người khác lại mưu cầu đạt đến sự hiểu biết về lẽ khôn ngoan. Với người Do Thái, khát vọng lớn nhất của họ là được xem thấy Đấng Cứu Thế, Người sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ đế quốc Rôma. Vốn là những người am hiểu Kinh Thánh, các kinh sư luật sĩ vẫn luôn tra vấn về những câu hỏi: khi nào Đấng Cứu Thế đến, và Đấng ấy sẽ đến như thế nào. Ngay cả các môn đệ của Đức Giêsu cũng có chung một thắc mắc ấy nên các ông cũng đặt câu hỏi với Thầy Giêsu Sao các kinh sư nói rằng ông Êlia phải đến trước?” Hiểu được những thắc mắc của các môn đệ, Đức Giêsu đã khẳng định cho các ông hiểu rõ về sự xuất hiện của các ngôn sứ đến trước để dọn đường cho Đấng Cứu Thế.

Đoạn Tin Mừng hôm nay đề cập đến ba nhân vật: Ngôn sứ Êlia, Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu. Cả ba danh xưng đều được nhắc đến như nhân vật quan trọng, đó là “Đấng Phải Đến”. Cả ba đều đã đến với chung một số phận, đó là đều bị dân chúng từ chối, thậm chí còn bị họ sát hại. Trước hết, vào thời Cựu ước, ngôn sứ Êlia đã được sai đến để chỉnh đốn mọi sự, để nói cho dân biết ý định của Thiên Chúa. Êlia là ngôn sứ lớn nhất trong các ngôn sứ, ông xuất hiện vào khoảng thế kỷ IX trước Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã gửi ngôn sứ Êlia đến để chỉnh đốn lối sống sai lầm của Akháp (x. 1V, 17-17). Êlia cho biết sẽ có nạn đói kém và hạn hán kéo dài vì “trời sẽ không đổ mưa xuống đất nước Israel”. Lời cảnh báo của Êlia đã không được đón nhận và ông còn bị sát hại, Êlia đã phải trốn chạy vào sa mạc. Nơi đây, Thiên Chúa sai thiên sứ mang bánh và nước tới cho Êlia và ông có đủ sức tiếp tục đi 40 đêm ngày tới núi Khôrép gặp gỡ Thiên Chúa và thi hành theo ý Người muốn. Tiếp theo là ngôn sứ Gioan Tẩy Giả, ông cũng đến để chuẩn bị lòng dân, dọn sẵn một con đường thuận tiện cho Đấng Cứu Thế đến. Gioan cũng đã bị bỏ tù và bị sát hại vì ông lên tiếng tố cáo tội lỗi của vua Hêrôđê. Cuối cùng Đức Giêsu đến để hoàn tất lời hứa cứu độ, và Người cũng đã bị các vị hữu trách tôn giáo loại trừ; riêng với các môn đệ, hầu như các ông đã nhận biết Chúa là Đấng Mêsia của Lời Hứa, nhưng các ông chưa thể hiểu được một Đấng Cứu Thế phải chịu đau khổ, chịu chết và sống lại. Những gì Đức Giêsu nói với các môn đệ là sự thật, một sự thật rất thường tình mà cũng đầy phũ phàng. Thế nhưng không vì sự thật đó mà Con Thiên Chúa từ chối đến với nhân loại. Người đã biết trước điều đó và Người đã đến để thánh hóa, để yêu thương và cứu độ tất cả. Những gì là chống đối, là thù nghịch, là chối bỏ, là sát hại đều được Đức Giêsu đón nhận với tất cả tình thương sâu thẳm của một Vị Thiên Chúa. Thật vậy, chúng ta được cứu độ không phải vì công kia việc nọ nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa. Quả thế, lịch sử cứu độ là lịch sử của lòng thương xót, của tha thứ và kiếm tìm. Dù loài người có phản bội bất trung đến đâu, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ. Dù lòng người có ích kỷ hạn hẹp, dù nhân loại có dối lừa đi hoang thì Thiên Chúa vẫn yêu thương vẹn tròn, vẫn chờ đợi ngóng trông. Con người là đối tượng để Thiên Chúa yêu thương cứu độ. Dù người yêu có quay bước lỗi hẹn, dù cha mẹ có bỏ rơi con cái, thì Thiên Chúa vẫn không quên con người. Bản chất của Thiên Chúa là tình yêu, Người không ngừng thể hiện bản chất ấy bằng những hành động cụ thể như yêu thương và bênh vực người nghèo khổ, chữa lành mọi chứng bệnh trong dân.

Quả thế, Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và đến với chúng ta hàng ngày qua các biến cố. Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm để đến và ở lại với loài người chúng ta. Qua bí tích Thánh Thể, hàng ngày chúng ta được thưởng nếm sự sống Thần Linh để sống dồi dào sung mãn. Thiên Chúa vẫn đến với chúng ta qua từng công việc bổn phận với những biến cố vui buồn lớn nhỏ của bản thân, của gia đình và của thời cuộc. Ước gì chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa để biết cải hóa con người mình theo lời Chúa khuyên dạy. Đồng thời, như thánh Gioan Tẩy Giả, trong Mùa Vọng chúng ta cũng được Chúa sai đi làm chứng cho Chúa, chia sẻ cho tha nhân tình yêu cứu độ của Chúa mà mình đã cảm nghiệm. Tuy nhiên, làm chứng nhân cho Chúa luôn gắn liền với thái độ sống hy sinh quên mình như cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả và của các Thánh. Điều này mời gọi mỗi người phải chuyên cần chiêm ngắm Đức Giêsu trong Lời của Người và trong Bí tích Thánh Thể để biết sống yêu như Người đã yêu, quan tâm phục vụ từng thành viên trong gia đình cũng như những người bé nhỏ, bệnh tật, nghèo đói sống bên cạnh chúng ta.

TÓM LẠI: Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy xem lại, đã biết bao lần trong cuộc sống tôi phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa; tôi chối từ lời Chúa mời gọi ăn năn sám hối và sống theo Tin mừng. Đã có nhiều lần Chúa gửi cho tôi những ‘Elia’ để cảnh tỉnh đời sống gập ghềnh, quanh co, tội lỗi của tôi, nhưng tôi lại cười nhạo cho là quê mùa, không thức thời, nhọc công…. Hoặc tôi tự nói với bản thân: Tại sao tôi phải sống khác đi trong khi mọi người quanh tôi đều sống như vậy? Tại sao tôi không lén lút lấy sản phẩm của công ty khi có nhiều người làm như thế; Tại sao ra khỏi cơ quan tôi phải đi thẳng về nhà trong khi có rất nhiều bạn bè tôi ghé vào quán nhậu, bia ôm, hay vui vẻ trong vũ trường; rồi còn nữa : tại sao tôi phải học hành thi cử để lấy bằng lái xe trong khi người ta vẫn mua bằng; tại sao tôi phải tôn trọng bảo vệ trật tự xã hội và môi trường xung quanh trong khi người ta vẫn chủ trương “cha chung không ai khóc”, vẫn ‘xả rác’ làm ô nhiễm môi trường cách vô tội vạ…. Và muôn muôn điều tại sao khác nữa. 

*******

Lạy Chúa! Trong Mùa Vọng này, để chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, kỷ niệm mầu nhiệm Chúa nhập thể, con xin Thần Khí Chúa ‘sửa lại mọi sự trong lòng con’: những uẩn khúc quanh co trong tâm hồn, trong cuộc sống; những gập ghềnh của cái tôi đầy những tự ái, tự phụ; những hố sâu của tham lam ích kỷ… xin Chúa sửa lại, để con sống đức tin, tin vào sự hiện diện của Chúa qua mọi biến cố hằng ngày của cuộc sống, tin rằng Chúa vẫn cùng đồng hành với con trên mọi nẻo đường, mọi ngõ ngách cuộc đời, nhất là con biết tin vào lời Chúa và trung thành thực thi những gì Chúa dạy. Amen

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

THỨ SÁU TUẦN II MÙA VỌNG


Nhưng đức Khôn Ngoan được chứng minh bằng hành động (Mt 11, 19b)

Mùa vọng cho tôi suy nghĩ và chiêm ngắm mầu nhiệm con Thiên Chúa đến trần gian, nhập thể làm con người bình thường giữa bao người. Tôi ngắm bình minh le lói phía chân trời với muôn sắc màu rực rỡ chuẩn bị cho một ngày mới lên ngôi với ánh dương bừng sáng huy hoàng. Tôi ngắm vạn vật sống động, chim chóc chuyền cành, rừng cây ngút ngàn, lúa xanh dầm chân trong nước rì rào khúc hát bình yên, ca ngợi tình yêu và sự sống. Vũ trụ mênh mông, không trung lồng lộng hay từng hạt cát li ti, bông hoa bé tí đều nói cho tôi hay sự kỳ diệu của Thiên Chúa – sự kỳ diệu vượt quá mọi trí tưởng của tôi. Thế nhưng Thiên Chúa ấy đã đến trần gian; đến một tinh cầu nhỏ bé trong vũ trụ mênh mông vô tận để nhận lấy thân phận làm người trong vực thẳm hư không để cứu vớt con người. Tôi ngạc nhiên trước một Thiên Chúa kỳ vĩ là thế nhưng lại khiêm nhu đến thế. Bởi con người là gì khi nó chỉ như hạt cát giữa biển rộng đất trời. Con người là chi mà Chúa lại bày tỏ lòng ưu ái, yêu thương đến thế? Trải qua từng trang sử cứu độ tôi thấy Thiên Chúa đặc biệt yêu thích những kẻ khiêm nhường – những con người được mệnh danh là “người nghèo của Thiên Chúa”. Phải chăng ở nơi sự khiêm tốn có vẻ đẹp thuần khiết của một tâm hồn trong sáng, đôn hậu và thiện lương luôn ắp đầy tình yêu thương mà Thiên Chúa đã phú cho con người? 

Tuy nhiên, ngày nay, trong một tổ chức hay cộng đoàn nào cũng vậy, đạo cũng như đời, nhiều người thường chủ trương một thái độ dửng dưng, tránh tối đa mọi liên lụy để chỉ “xin hai chữ bình an” và  cũng có những người đã không làm thì chớ, lại còn bất mãn triền miên, phê phán chỉ trích người làm… Đây là thái độ mà hôm nay Chúa Giêsu cực lực lên án.  Vì thế, qua bài tin mừng hôm nay, trong tâm tình của mùa vọng, Chúa cũng muốn mời gọi chúng ta nhìn lại chính mình, Có thể ta là người trưởng thành, nhưng tâm hồn sẽ mãi ấu trĩ, nếu cứ ngang bướng tìm mọi cách biện minh cho quan điểm lệch lạc, lối sống sai quấy của mình. Tính kiêu căng, óc phê phán và cái nhìn phiến diện nó như là những căn bệnh nan y khó điều trị. Một khi con người có địa vị cao hơn một tí, hiểu biết hơn một chút hoặc có khả năng thì dễ trở nên kiêu ngạo, coi mình là trung tâm, là cái rốn của vũ trụ, muốn người khác làm theo ý mình… và chỉ biết trách “tại sao tôi làm”… mà các anh thì “không làm” như tôi, thậm chí còn coi trời bằng vung:  Thật vậy, căn bệnh tự kiêu khiến người ta ít làm chủ được bản thân, nhưng lại rất muốn làm chủ kẻ khác. Bệnh tự mãn là nguyên nhân của mọi chia rẽ bất đồng khiến người ta khó có thể sống hòa hợp. Bệnh kiêu ngạo làm cho con người mù lòa, không nhìn thấy được hết mọi vẻ đẹp đa dạng muôn màu của thực tại chân lý; như những người mù xem voi, anh nắm lấy được cái đuôi lại cho rằng con voi có hình dạng giống chiếc chổi cùn; còn anh rờ trúng cái bụng thì lại cho rằng con voi như cái trống…. Vì bệnh kiêu ngạo làm cho con người mù lòa trước chân lý nên họ cũng khó có thể nhận biết Thiên Chúa.

Ước gì lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta có cái nhìn đúng đắn về chính mình và tha nhân. Về chính mình để kiên quyết loại trừ tính tự cao, tự đại, óc ích kỷ hẹp hòi và cái nhìn phiến diện để mở rộng lòng ra mà đón nhận giáo huấn của Chúa và tha nhân. Còn với tha nhân, thì luôn rộng rãi để cảm thông, tha thứ và yêu thương. Có như thế, mùa vọng mới đem lại kết quả tốt đẹp cho chúng ta. Vì vậy, mỗi người Ki-tô hữu chúng ta hãy trở lại với chính mình xem xét lại thái độ của chúng ta trong tương quan với Thiên Chúa, với anh chị em và với chính bản thân: Niềm tin vào Thiên Chúa ở nơi tâm hồn tôi có còn thực sự không; thể hiện bằng cách tôi sẵn sàng làm theo ý Chúa trong cuộc sống? Tôi có đủ yêu thương, đủ tôn trọng và sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với anh chị em, nhất là những người sống quanh tôi trên hành tinh này. Tôi có đủ khiêm tốn để nhìn ra những khả năng Chúa ban cho tôi như nén bạc để làm phong phú cho cuộc sống, phục vụ tha nhân, sinh lời cho Chúa; và đồng thời cũng nhận ra những giới hạn của mình để biết rằng mình đón nhận rất nhiều từ tha nhân, và tha nhân chính là hồng ân Chúa ban tặng cho mỗi người trong cuộc sống.

******

Lạy Chúa, xin ban cho con một tâm hồn thiện chí, xin mở lòng trí con, xin giúp con khiêm tốn nhận ra thân phận nhỏ bé của mình để con dễ dàng đón nhận sự khôn ngoan của Tin Mừng. Xin ban cho con ơn can đảm để con thực thi tiếng Chúa mời gọi và dấn thân đi trên đường lối Chúa. Con xin trao phó bản thân con, gia đình con cho tình yêu thương và sự khôn ngoan vô cùng của Chúa. Amen.