Translate

Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

THỨ BA TUẦN 30 THƯỜNG NIÊN


Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được……Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men. (Lc 13, 19.21)

Trong vạn vật, vũ trụ có muôn vạn ức triệu tinh hoa sự sống rất nhỏ bé tầm thường nhưng khả năng và sức mạnh của nó thật phi thường. Đức Giê-su đã lấy một vài vật bình dị, điển hình trong cuộc sống làm ví dụ như hạt cải, nắm men để nói về sức mạnh và sự phát triển của nước trời. Như hạt cải là tinh hoa mầm sống của cây cải, nó chỉ như hạt tấm nhỏ nhưng lại có khả năng phát triển thành cây cải cao lớn (cây cải ở Palestine không phải như cây rau cải bé nhỏ bình thường ở Việt Nam, nó có thể cao tới 3m) làm nơi ẩn náu cho chim trời. Như hạt là tinh hoa của cây, tinh hoa của nước Thiên Chúa chính là tình yêu. Thật vậy, Ngôi Lời như hạt giống tình yêu được gieo vào lòng thế giới, và Lời tình yêu đó vẫn tiếp tục được rao truyền và vang xa mãi đến tận cùng trái đất. Quả thật, Nước Trời ban đầu thật bé nhỏ trên dưới vài chục người với Chúa Giêsu và các môn đệ quanh quẩn trong xứ Palestin nhỏ bé, nhưng trải qua lịch sử thăng trầm, đến bây giờ Hội Thánh có trên một tỷ người có mặt khắp nơi trên thế giới. Chức năng của Nước Trời, của Hội Thánh, của Dân Thiên Chúa là phải lớn lên và trở thành bóng mát cho đời, cho mọi người nương ẩn giữa bão táp mưa sa của cuộc đời:

-  Lớn lên:  Mọi thành viên trong “Nước Trời” là chúng ta đều có nghĩa vụ truyền giáo và sống chứng nhân để làm cho Nước Trời lớn mạnh. Xét về phương diện cá nhân, chính mỗi người chúng ta cũng phải lớn lên trong Đức Tin, trong Thánh Thần và trong đời sống đạo, từ đó làm cho Hội Thánh từ địa phương đến hoàn vũ cũng được lớn lên.

-  Bóng mát che chở: Nước Trời, Hội Thánh, Kitô hữu chúng ta phải là bóng mát cho đời, là nơi đáng tin tưởng cho mọi người tìm lại được an bình nội tâm. Chúng ta có bổn phận làm cho thế giới thêm bình an và xoa dịu mọi đau thương của nhân loại.

Lại nữa, như nắm bột men nhỏ người đàn bà vùi vào ba đấu bột – men ở trong bột thì người ta không thể nhìn thấy nó, nhưng nó lại có khả năng làm cho cả khối bột dậy men; thì nước Thiên Chúa cũng thế, ban đầu rất nhỏ bé nhưng vẫn âm thầm phát triển lớn mạnh và sự hiện diện của nước Thiên Chúa có khả năng làm biến đổi thế giới. Nếu ai đã từng xem cách thức ủ bột, ủ cơm hay ủ trái cây để làm rượu, thì sẽ không lạ gì về công dụng của men. Men là một loại chất xúc tác, hai công dụng của nó là: thấm nhập và biến đổi những gì men được trộn vào:

-  Thấm nhập: Chân lý Nước Trời, bản chất Hội Thánh là phải thấm nhập vào nhân loại và thế giới trong mọi hoàn cảnh và môi trường. Ngay nơi bản thân Kitô hữu phải chấp nhận được trộn lẫn vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, để nhờ đời sống chứng nhân, chúng ta sẽ giúp mọi thứ biến đổi theo Tin Mừng. Chứ không phải như cục men nằm yên sẽ chỉ là vô dụng.

-  Biến đổi: Chân lý Nước Trời là Lời Chúa, có sức biến đổi tâm hồn mọi người, từ đó biến đổi thế giới theo nền văn minh tình thương. Mỗi Kitô hữu được mời gọi sống chứng nhân, nghĩa là bằng đời sống đạo tốt lành của mình làm lay độn và biến đổi những tâm hồn nguội lạnh, cũng như có sức thu hút lương dân trở về với Chúa, để cả thế giới cũng được “dậy men” Tin Mừng.

 TÓM LẠI: Nước Trời được ví như Hội Thánh do Chúa Kitô thiết lập, là một sự tăng trưởng không ngừng và trở thành bóng mát cho mọi tâm hồn đến trú ẩn. Hội Thánh đó hiện diện mọi nơi trên thế giới để biến đổi thế giới và làm dậy men Tin Mừng khắp thế giới.  

********* 

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức về sứ vụ của mình là làm cho Nước Chúa ngày càng được lớn lên và thấm nhập được vào mọi nơi trên dương gian này. Amen.

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

THỨ HAI TUẦN 30 THƯỜNG NIÊN

Trông thấy bà, Đức Giê-su gọi lại và bảo: “Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!” (Lc 13, 12)
Trong truyền thống Do Thái, sabát là một ngày có ý nghĩa rất lớn ghi nhớ ngày thứ bảy trong cuộc sáng tạo của Thiên Chúa (Xh 31, 17). Ngày sabát còn nhắc nhớ biến cố dân Israen được giải thoát khỏi kiếp nô lệ Ai Cập (Đnl 5, 15) và hướng tới sự thành toàn viên mãn trong Trời Mới Đất Mới (Is 65, 17). Người Do Thái giữ luật ngày sabát rất chặt chẽ và tỉ mỉ.Trong ngày đó mọi người kể cả nô lệ đều được nghỉ ngơi, gác hết mọi việc đồng áng và chăm sóc gia súc, họ tới hội đường để cầu nguyện và nghe đọc Sách Thánh. Bài Tin Mừng Lc (13, 10-17 ) hôm nay thuật lại một phép lạ của Chúa Giêsu chữa người phụ nữ bị còng lưng, mà Ngài thực hiện việc này trong ngày ba-bát, một ngày cấm làm việc của người Do Thái. Điều này đả gây sốc và dấy lên nỗi tức giận cho giới lãnh đạo Do Thái, họ lên án trách móc dân chúng gay gắt: “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!”  (Lc 13, 14b). Nghe vậy Đức Giêsu liền giải thích cho họ biết đừng vì luật lệ mà không thi hành đức yêu thương bác ái đối với người khác. Đức Giêsu cũng tuân giữ ngày sabát và công nhận đó là ngày thánh, đồng thời Người hướng chúng ta đến giá trị thiêng liêng cao đẹp hơn, đó là ngày dành để thờ kính Thiên Chúa, Người nói: Ngày sabát có vì người ta chứ không phải người ta có vì ngày Sabát” (Mc 2, 27).  Khi khẳng định điều đó, Đức Giêsu muốn mọi người phải nhìn nhận quyền năng của Thiên Chúa vượt lên trên mọi luật lệ, lên mọi định kiến và sự hẹp hòi ích kỷ của loài người. Qua đó Đức Giêsu cũng cho biết sứ mệnh của Người là đến thế gian để cứu vớt những ai đang lầm than vất vả, đang mang gánh nặng nề của đau khổ và tội lỗi. Việc làm của Đức Giêsu đã giúp các môn đệ có một cái nhìn bao dung rộng lượng hơn. Bởi lẽ Đức Giêsu đã đến trần gian không phải chỉ cứu người Do Thái nhưng để cứu tất cả chiên lạc nhà Israel. Người đã đến không phải để cho người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và yêu thương mọi người. Với trọn tấm lòng yêu thương, Đức Giêsu có cái nhìn tinh tế, Người thấu hiểu nỗi khổ của người đàn bà bị bệnh suốt mười tám năm. Người đã vượt lên trên những rào cản của văn hóa dân tộc, của thói tham lam ích kỷ, vượt qua óc thành kiến và đố kỵ để giải thoát thân phận con người khỏi sự ràng buộc của đau khổ và tội lỗi.

Câu 14 nói lên thái độ và con người của ông Trưởng Hội Đường. Để tỏ ra uy quyền của người Trưởng Hội Đường nắm giữ và bắt người khác thi hành đúng luật, nên ông tỏ ra tức tối và lên tiếng nhắc nhở cả cho đám đông và Chúa Giêsu “ có 6 ngày phải làm việc, thì đến xin chữa bệnh trong ngày đó, đừng đến vào ngày Sa-bát” (Lc 13, 14b). Một giọng điệu nghe có vẻ là người tuân giữ lề luật, nhưng đây chỉ là lối giữ luật vụ hình thức, bởi nội dung sâu xa của luật vẫn là lòng bác ái đối với anh em đồng loại. Chúa Giêsu đã chữa cho người phụ nữ, giờ đây Ngài muốn chữa bệnh thiêng liêng cho ống Trưởng Hội Đường và các kẻ chống đối Ngài, Ngài lên tiếng: đạo đức giả ! Trong ngày Sa-bát, bò lừa còn được dẫn đi uống nước mà . Trong 2 câu 15 và 16, Chúa Giêsu đã dẫn chứng và đưa ra một lối so sánh rất ngoạn mục : một bên là con lừa, con bò, còn bên kia là một con người. Một bên chỉ để giải khát thân xác, còn bên kia là giải thoát cả về đời sống tinh thần. Tại sao các ông sẵn sàng thực hiện những công việc chỉ đáp ứng những nhu cầu thân xác của một con vật, mà lại tỏ ra cứng nhắc khi giải thoát cho một con người đã bị ma quỉ kiềm chế bấy lâu ? Tại sao các ông chỉ thấy sự cần thiết cho một thân xác của con vật, mà không thấy nhu cầu thiêng liêng của một con người? . Vậy mà các ông nhận mình là cha, là mẹ của dân sao?

Thật thế, các vấn nạn Chúa Giêsu đặt ra để ông Trưởng Hội Đường và các người theo phe ông nhận ra cốt lõi của luật. Trước hết và trên hết đó là lòng nhân ái. Nhiều khi chúng ta dùng luật mà xem thường hay xúc phạm vùi dập của con người. Câu 17 là câu kết luận của bài Tin Mừng những kẻ chống đối Chúa Giêsu phải xấu hổ còn toàn dân thì vui mừng”, đó là 2 thái độ của những người nghe Lời Chúa. Câu trả lời của Chúa Giêsu đã cho họ biết họ đang đứng ở vị trí nào trong Nước Thiên Chúa.

Thật trùng hợp khi ngày nay trong chúng ta, vẫn có khối kẻ sống nệ luật như ông Trưởng Hội Đường này. Chúng ta đã dùng luật Chúa và luật Giáo Hội để lên án tố cáo người khác, không đúng nơi, đúng lúc. Một cách không nhân nhượng, chúng ta dễ dàng thoải mái xét đoán khi không có thẩm quyền ấy và nhiều khi những lời tố cáo đó chỉ theo nhãn quan tình cảm của ta mà thôi. Như người Do Thái xưa đã dùng luật mà lên án Chúa Giêsu, ngày nay chúng ta cũng dùng chính Lời Chúa để kết tội người khác một cách vô tình hay hữu ý.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết soi mình vào tấm gương Lời Chúa để sửa mình, chứ không để tố cáo người anh em cách vô tội. Nếu phải buộc nói ra vì trách nhiệm, vì bổn phận… xin cho chúng con biết nói trong tinh thần bác ái, để lời nói của chúng con bây giờ sẽ không là lời kết án chúng con trước tòa Chúa sau này. Amen.

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN, NĂM A


Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. ….. ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.  (Mt 22, 37.39)

Ngày xưa, người Do Thái có hàng trăm khoản luật cấm và luật buộc phải làm, khiến cho nhiều người lúng túng không biết đâu là điều chính, đâu là điều phụ. Riêng các thầy thông luật trong câu chuyện hôm nay, có lẽ không phải vì họ không phân biệt được điều nào là quan trọng, mà là họ muốn đặt vấn đề để thăm dò quan điểm của Chúa Giêsu, khi thấy cách giảng dạy và lối hành xử của Chúa Giêsu hoàn toàn khác với các luật sĩ và biệt phái. Họ hỏi Chúa : Thưa Thầy, trong các giới răn, điều nào là trọng nhất ? Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su khẳng định lại hai giới răn quan trọng nhất và liên hệ không thể tách rời nhau là Mến Chúa – Yêu Người được nói tới trong Thập Điều. Thật vậy, Thập Điều được Chúa ban cho Môisen trên núi Sinai tóm gọn lại trong hai điều (mười răn ấy tóm lại hai điều này mà chớ…): ba điều trước tập chú về việc MẾN CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰ và bảy điều sau nói đến bổn phận YÊU NGƯỜI NHƯ MÌNH TA VẬY.

Với Chúa Giêsu, giới răn trọng nhất là giới răn yêu mến Thiên Chúa. Ngài đòi mỗi người phải dành cho Thiên Chúa một tình yêu cá vị, cụ thể và tuyệt đối. Tức là phải có một tình yêu riêng tư, cá nhân đối với Thiên Chúa, chứ không phải một tình yêu chung chung với mọi người. Tình yêu đó phải là một tình yêu cụ thể được thể hiện qua hành động, chứ không chỉ là lời nói trên môi, và còn phải là tình yêu tuyệt đối, phát xuất từ sự cảm nhận và đáp lại tình yêu của Thiên Chúa cách hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mình. Đó là một tình yêu trọn vẹn với hết khả năng con người, với cả sự hiểu biết, lòng muốn và cả trái tim. Tại sao Chúa lại đòi chúng ta một tình yêu tuyệt đối như thế, và con người có thể đáp lại cách tuyệt đối như vậy không ? Thiên Chúa mong muốn và đòi chúng ta phải yêu Ngài như thế, dù tình yêu của con người chẳng thêm gì cho Thiên Chúa, nhưng khi yêu mến Thiên Chúa, con người bày tỏ sự chấp nhận và vâng phục Ngài là Đấng Tạo dựng nên mình. Khi yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, con người không bị giảm giá trị, cũng không bị mất tự do. Trái lại, khi dành cho Thiên Chúa một tình yêu tuyệt đối, chúng ta sẽ đón nhận được tình yêu của Ngài thông chuyển cho chúng ta và đem đến cho chúng ta một sức sống viên mãn, hạnh phúc. Hơn thế nữa, vì chúng ta được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, mà thiên Chúa là Tình Yêu, nên khi chúng ta càng yêu thương, càng gắn bó với Thiên Chúa, chúng ta càng trở nên giống Thiên Chúa và tỏa sáng hình ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta. Ngược lại, nếu không yêu mến Thiên Chúa thì chúng ta tự làm cho hình ảnh của Thiên Chúa bị lu mờ và sức sống của Thiên Chúa bị sút giảm trong cuộc đời chúng ta.

Điều răn thứ hai Thiên Chúa muốn nơi chúng ta là : Hãy yêu người thân cận như chính mình, hay nói đúng hơn, Thiên Chúa muốn chúng ta thể hiện tình yêu đối với Ngài qua việc thương yêu những người thân cận. Người thân cận là ai ? Yêu như chính mình là gì ? Luật Do Thái giới hạn bổn phận phải yêu thương đối với những người đồng hương, đồng chủng. Đối với Chúa Giêsu, khi đòi hỏi phải yêu thương người thân cận, Chúa muốn gỡ bỏ tất cả những hàng rào giới hạn, để yêu thương không giới hạn, không điều kiện. Người thân cận Chúa Giêsu nói đến không chỉ là người bên cạnh, ruột thịt họ hàng, mà là tất cả mọi người mà chúng ta có dịp gặp gỡ. Người bên cạnh còn là những người chúng ta thích và cả những người chúng ta không thích, những người khó ưa hoặc những người không yêu chúng ta. Yêu như chính mình là yêu như thế nào ? Ai trong chúng ta cũng yêu mến bản thân mình, chăm sóc cho mình, muốn điều tốt đẹp nhất cho mình, cho gia đình mình, … Chúa muốn chúng ta lo cho mình như thế nào, yêu bản thân mình thế nào thì cũng biết lo, biết yêu, biết nghĩ tới anh em bên cạnh như vậy. Sách Xuất Hành đã chỉ cho cho chúng ta lý do tại sao phải yêu anh em như thế : Ngươi không được áp bức ngoại kiều, mẹ góa con côi, các ngươi đừng ức hiếp nó, vì Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu. Các ngươi cho người nghèo vay tiền thì đừng lấy lãi, cũng không được coi thường nó. Các ngươi phải trả lại cho người nghèo áo choàng nó đã cầm cố, vì nó chỉ có một chiếc áo để che thân, nó lấy gì mà đắp khi nằm ngủ ? Nó mà kêu đến Ta, Ta sẽ nghe tiếng nó. Vì Ta vốn nhân từ. Những lời cảnh báo ấy cho thấy lý do Chúa muốn mỗi người phải cư xử với người bên cạnh bằng tình yêu thương là vì Chúa là Đấng nhân từ. Chỉ khi chúng ta cư xử giống Thiên Chúa là Đấng nhân từ thì chúng ta mới được hưởng sự nhân từ của Thiên Chúa.

*********

Lạy Chúa, hành trình qua thập giá đến vinh quang mà chúng con đang bước theo Chúa không chỉ có tương quan hàng dọc với Chúa, mà còn phải được liên kết với thanh ngang của thập giá là tương quan với tha nhân, xin cho chúng con ý thức rằng chúng con chỉ thực sự yêu mến Chúa khi chúng con biết yêu thương tha nhân. Amen.

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

LỄ KÍNH THÁNH SIMON VÀ GIUDA TÔNG ĐỒ

Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. (Lc 16, 12-13)

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu lựa chọn các Tông Đồ, ban năng quyền cho các ngài và sai đi loan báo Tin Mừng. Theo Tin Mừng Luca, Đức Giêsu thường cầu nguyện vào những thời điểm quan trọng. Ngài cầu nguyện khi nhận phép rửa của Gioan Tẩy giả (Lc 3,21). Ngài cầu nguyện một mình trước khi loan báo cuộc khổ nạn (Lc 9,18). Ngài cầu nguyện khi ở trên núi, trước khi Ngài được hiển dung (Lc 9,29). Ngài cầu nguyện trong xao xuyến khi đứng trước cái chết gần kề (Lc 22,41). Lúc bị treo trên thập giá, Ngài cũng cầu nguyện cho kẻ giết mình (Lc 23,34). Cầu nguyện đối với Chúa đơn giản là một cuộc gặp gỡ Cha. Ngài muốn gặp Thiên Chúa là Cha của Ngài để hỏi ý.  Việc tìm ý Chúa Cha, không phải lúc nào cũng là việc dễ dàng. Chính vì thế mà có những lần Chúa đã phải thức thâu đêm để cầu nguyện, để tìm xem ý Cha muốn gì. Cũng như hôm nay, Chúa cầu nguyện để xem Chúa Cha muốn chọn ai trong số những môn đệ ở đây để họ trở thành những người mà Ngài gọi là tông đồ. Và sau một đêm cầu nguyện, đến sáng Đức Giêsu mới quyết định. Ngài gọi và chọn nhóm Mười Hai tông đồ theo ý Cha. Chúng ta cũng thế, khi chọn một ai làm điều gì cho Giáo Hội rất cần cầu nguyện để xin ơn soi sáng, dù trong tư cách mình là cộng đoàn hay tư cách cá nhân đều cần đến ơn Chúa, nếu không thì chỉ có ý mình với đầy những tình cảm, cục bộ, địa phương, phe nhóm, loại trừ, trả thù, ghanh ghét… Khi đó là chúng ta tiếp tay cho ma quỷ để chọn chứ không phải cộng tác với Chúa để chọn. Công việc cá nhân cũng thế, khi chúng ta định chọn làm một việc gì quan trọng, chúng ta đừng ỷ lại vào khả năng mình thái quá, mà nên cầu xin ơn Chúa soi sáng để mình lựa chọn việc làm đúng đắn và có ích cho đời sống.

Mặt khác, hãy luôn nhớ rằng, Chúa gọi và chọn các môn đệ, chứ họ không tự cho mình được chọn hoặc tự ứng cử, nghĩa là Chúa ở một vị thế cao hơn, Chúa là trung tâm chứ không phải họ được quyền lấy mình làm chuẩn; như thế, điều kiện đầu tiên để trở thành Tông Đồ là do được Chúa chọn. Các môn đệ lại với Người, nghĩa là họ phải được tách ra khỏi đám đông và đến; như thế, điều kiện thứ hai là khi được gọi họ phải được tách riêng ra, nghĩa là phải có sự thay đổi đời sống nên tốt hơn… Cũng thế, trong Giáo Hội, việc được chọn làm công việc này, chức vụ nọ, là do Chúa chọn qua sự tuyển lựa của Hội Thánh, chứ không phải cha truyền con nối hay mình tự ứng cử, vì thế luôn phải đặt ý Chúa lên trên hết và dù hợp với chúng ta hay không thì cũng phải biết thuận theo ý Chúa. Riêng với những ai được chọn, dù là Giáo Hoàng hay Giáo Lý Viên thì cũng đều phải cố gắng sống tốt hơn so với mặt bằng chung, xứng với địa vị của mình.

********

Lạy Chúa! Xin cho chúng con ý thức rằng: Ý Chúa luôn tốt hơn ý của con, sự chỉ dạy của Ngài luôn mang lại lợi ích tốt nhất cho phần phúc chúng con. Vì thế, mỗi khi làm bất cứ việc gì, nhất là khi quyết định những việc quan trọng trong đời, chúng con cần dành thời giờ để cầu nguyện, xin ơn soi sáng của Chúa; đồng thời cũng nên bàn hỏi với bề trên là những người có kinh nghiệm và có trách nhiệm hướng dẫn đời sống đức tin của chúng con. Xin cho chúng con hằng biết noi gương hai vị thánh Tông đồ Simon và Giuđa luôn nhiệt thành trong bổn phận và hằng trung tín với niềm tin. Amen.

Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

THỨ SÁU TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN


Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét? (Lc 12, 56)

Có một câu thành ngữ như sau: Khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có người biết mới sống”. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cảnh tỉnh chúng ta phải biết nhìn những dấu chỉ thời đại để nhận ra thời giờ của Chúa, Chúa Giêsu trách những người Do Thái giỏi đoán biết về hiện tượng thiên nhiên, để phòng tránh hay đón mùa, nhưng lại không nhận ra những lời nói và việc Chúa Giêsu làm để đón nhận đó chính là dấu chỉ của Đấng Messia, và để canh tân đời sống. Giáo Lý Công Giáo dạy rằng chúng ta có thể biết có Thiên Chúa hiện hữu khi nhìn ngắm trời đất muôn vật và trật tự lạ lùng trong vũ trụ. Thật vậy, thiên nhiên chính là lời mạc khải về sự hiện hữu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn đang nói với chúng ta qua các dấu chỉ thời đại, từ hiện tượng thiên nhiên đến các biến cố trong cuộc đời. Ngài vẫn hằng tha thiết kêu mời chúng ta hãy nhận ra sứ điệp của Chúa để canh tân đời sống và trở về hoà giải với Chúa và anh em.

Lời Chúa hôm nay đang cật vấn lương tâm mỗi người chúng ta về thái độ sống thế nào để khi thời giờ của Chúa đến chúng ta không phải nuối tiếc. Đôi lúc chúng ta giả vờ hay cố tình lãng quên lời dạy của Chúa. Chúng ta mải mê điên cuồng đuổi theo những gì là phù hoa hư ảo, chạy theo cơn cám dỗ của tiền bạc vật chất, đam mê xác thịt mà không sống và tìm kiếm những giá trị Tin Mừng. Chúng ta say sưa ngủ yên trên những vinh quang đạt được mà quên rằng cuộc sống này chỉ là tạm bợ, trời đất này sẽ qua đi vì bản chất của nó chỉ là vật chất không thể tồn tại vĩnh viễn. Chúng ta quen sống trong sự giả dối ngu muội, ù lì chìm trong các thói hư tật xấu. Một lần nữa Chúa nhắc nhở chúng ta quan sát những điềm thiêng dấu lạ để nhận biết ngày giờ của Chúa.

Dấu chỉ thời đại không chỉ là sự thay đổi của thời tiết, các vì tinh tú trăng sao nhưng còn là những vấn đề đang xảy ra trong cuộc sống xã hội hàng ngày. Nạn tham nhũng, bất công, nạn bài thiêng tục hóa, nạn phá thai cùng lối sống hưởng thụ thác loạn của giới trẻ...đang là tiếng chuông cảnh báo về ngày tận cùng của thế giới. Đứng trước những vấn đề nhức nhối ấy, niềm tin như bị tê liệt, chúng ta dường như phải “bó tay”. Hãy để cho ánh sáng Tin Mừng của Chúa soi rọi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống và lương tâm con người. Chúng ta sẽ làm gì để thức tỉnh những con người đang sống trong mê lầm tội lỗi? Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta hướng giải quyết đó là phải có thái độ sống công bằng, yêu thương bác ái với mọi người và phải sám hối mỗi ngày. Vì khi anh đi cùng đối phương ra tòa, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại và thừa phát lại tống anh vào ngục. Tôi bảo cho anh biết, anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng”. (Lc 12, 58-59). Hãy giải quyết với nhau khi còn dọc đường, đừng để khi đến toà rồi thì đã muộn. Cùng trong một ý tưởng trên, Chúa Giêsu nhắn nhủ chúng ta, bao lâu chúng ta còn thời giờ (trong thời đại chúng ta đang sống), hãy lo giao hoà với Chúa, với anh em và lo canh tân đời sống, đừng để khi phải ra trước toà chung thẩm, chúng ta không còn cơ hội để sửa sai nữa, và chúng ta sẽ phải đền trả nơi luyện tội cho tới khi đủ số đủ ngày (đồng kẽm cuối cùng).Mỗi người chúng ta luôn phải trả lẽ trước mặt Chúa về thái độ sống của chính mình.

TÓM LẠI: Thiên Chúa đã yêu thương tạo dựng nên chúng ta giống hình ảnh Chúa, Ngài ban cho chúng ta có trí khôn để nhận biết điều hay lẽ phải, có trái tim đong đầy tình yêu mến và có ý chí để chọn lựa. Chớ gì chúng ta biết dùng những khả năng Chúa ban nhận ra những dấu chỉ của thời đại mà có thái độ sống tích cực hơn, biết giữ tâm hồn trong sạch, hành động ngay chính để khi ra trước tòa Chúa, chúng ta không phải hối tiếc vì những gì đã xúc phạm đến Chúa và mọi người.

*******

Lạy Chúa! Xin cho chúng con biết tỉnh thức trước những dấu chỉ của thời đại, nhận ra Chúa hiện diện trong mọi biến cố của cuộc sống và trong tha nhân ; xin cũng giúp chúng con biết giao hòa với Chúa và anh em, để trong ngày chung thẩm, chúng con được Chúa ân thưởng hạnh phúc muôn đời. Amen.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

THỨ NĂM TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN

Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! (Lc 12, 49)  

Sự xuất hiện của Chúa Giêsu đã làm lộ ra những vết đen trong đời sống con người bằng ánh sáng Lời Chúa. Ánh sáng ấy làm chói mắt những kẻ quen bóng tối và chỉ muốn an thân, nhưng ánh sáng ấy lại cần thiết để khởi sự việc thăng tiến con người. Nhờ đó,con người thấy chỗ sai của mình. Mà có biết sai thì mới biết sửa sai cho đúng. Đó chính nội dung sứ điệp bài Tin Mừng hôm nay nhắm tới, khi Chúa Giê-su khẳng định sứ mạng của Người là đem lửa đến thế gian và tạo nên một sự đối kháng giữa những người chọn Chúa và những người theo thế tục. 

Mở đầu bài Tin Mừng, Đức Giêsu cho thấy tình yêu của Ngài đối với nhân loại, Ngài muốn thiêu đốt nhân loại bằng ngọn lửa tình yêu mãnh liệt của Ngài: Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! (Lc 12, 49). Trong Kinh Thánh, mỗi khi nói đến lửa là nói đến sự thanh luyện, thánh hóa của lễ, trừng phạt... Nhưng lửa trong Kinh Thánh cũng nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa, đó cũng là biểu tượng tình yêu trọn vẹn của Thiên Chúa đối với nhân loại. Khi nhập thể vào trần gian, Đức Giêsu đã hiện diện với nhân loại bằng tình yêu và hình ảnh con người. Ngài đem ngọn lửa tình yêu đó vào trần gian, hiện diện giữa nhân loại và Ngài mong cho ngọn lửa ấy được nhân rộng, được phân chia ra, không chỉ hiện diện cách ấm áp mà con bùng lên giữa nhân loại. Ngọn lửa ấy cũng được Chúa Thánh Thần soi sáng và làm lan tỏa nơi các tông đồ để các ngài sẻ chia cho nhân loại. Chúng ta cũng được ngọn lửa mà chính Đức Giêsu ném vào trần gian hôm nay thanh luyện, soi sáng và Chúa muốn chúng ta đem ngọn lửa của đời mình thắp sáng chính mình và tha nhân bằng tình yêu của Thiên Chúa. Chúng ta cũng cần để ngọn lửa Đức tin của mình bùng cháy trong cuộc sống hàng ngày của mình để mọi người, qua đời sống chứng nhân của mình nhận ra ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa đang hiện diện giữa nhân loại. Tuy nhiên, ngọn lửa mà Đức Giêsu mong muốn không dễ dàng bùng cháy nếu Ngài không trải qua cuộc khổ nạn và cái chết. Đó cũng là tình yêu tột đỉnh của Ngài đối với nhân loại và đó cũng là phép rửa mà Chúa nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay. Ước mong ngọn lửa tình yêu mau chóng lan rộng, nên Đức Giêsu mong chờ cuộc thương khó và cái chết đau thương trên Thập giá: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12, 50) . Đó là một bảo chứng tình yêu mà chính Ngài đã thực hiện khi đến trần gian.

Thật vậy, Đức Giêsu đã đến và mang ngọn lửa tình yêu của Ngài thắp sáng và soi sáng giữa một xã hội thiếu vắng tình thương và Ngài ước mong ngọn lửa ấy bùng cháy nơi chúng ta để chính chúng ta được soi sáng và sưởi ấm. Chúng ta cũng mang ngọn lửa ấy thắp sáng trần gian này để ngọn lửa tình yêu Đức Giêsu không lụi tàn đi mà ngày càng được nhân rộng qua mọi thời đại và lan tỏa đến mọi người. Theo Đức Giêsu, chúng ta chọn đi vào cửa hẹp, đi trên con đường chông gai và chấp nhận cả những chống đối, chia rẽ. Nhưng đó là con đường đưa đến bình an, hạnh phúc. Người sống theo Tin Mừng cũng được mời gọi để bảo vệ và giữ gìn ngọn lửa mà Đức Giêsu đã mang vào trần gian. Muốn thế, chúng ta phải chiến đấu để ngọn lửa ấy luôn được thắp sáng trong chính mình và trong tha nhân. Chúng ta cũng chiến đấu để đón nhận sự bình an đích thật. Chúng ta cũng chiến đấu để luôn luôn chọn lựa sống theo những giá trị của Tin Mừng để chúng ta xác nhận với Chúa rằng: ngọn lửa mà Chúa đã ném vào trần gian nay đã bùng lên.

*******
Lạy Chúa! Để theo Chúa, chúng con bị giằng co giữa tin hay không tin, chọn Chúa hay chọn thế gian, chọn hy sinh từ bỏ hay thoả hiệp tình cảm, thú vui, danh vọng và quyền lực. Xin giúp chúng con sẵn sàng vượt lên và thậm chí trên cả tình cảm gia đình ruột thịt để dứt khóat chọn Chúa và bước theo Người. Amen.

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

THỨ TƯ TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN


Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. (Lc 12, 40)

Trong một xã hội đầy biến chuyển không ngừng trên thế giới ngày nay, con người nhất là những người thuộc nhóm kinh doanh thương mại… luôn tỉnh thức, để việc buôn bán của họ không bị sập tiệm hoặc đóng cửa và họ cũng kịp thời cơ nắm bắt những thay đổi, hầu làm tăng nguồn vốn, tài sản của họ. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức. Sự tỉnh thức đích thực là chu toàn bổn phận của mình với một tinh thần trách nhiệm, và với một tinh thần phục vụ quên mình. Người Ki-tô hữu luôn dấn thân vào mọi ngõ ngách cuộc đời. Người Ki-tô hữu luôn phải làm chứng cho Tin mừng khi sống chu toàn bổn phận của mình, khi sống hết trách nhiệm với tha nhân và trong tinh thần phục vụ quên mình. Có như vậy, chúng ta mới đáng được chủ thưởng công ở đời này và cả đời sau.

Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong trình thuật lên Giêrusalem của Đức Giê-su, nơi Ngài sắp và sẽ thực hiện cuộc xuất hành. Vì thế, Ngài chuẩn bị cho các môn đệ có một lối sống trong tương lai, sau khi Ngài phục sinh. Đó là: tuyên xưng về Con Người, tránh thói giả hình và đứng vững trước cơn bách hại ( Lc 12,1-2), thái độ đối với của cải ( Lc 12,13-34), thái độ cần tỉnh thức ( Lc 12,35-40) và phải có lòng trung thành (12,41-48). Đức Giê-su ví việc Ngài đến như kẻ trộm đột nhập vào chính giây phút chủ nhà chểnh mảng, xao lãng hoặc không nghĩ tới, không thèm quan tâm đến. Trong đời sống thiêng liêng, kẻ trộm còn được xem như hình ảnh quỷ dữ. Chúng đi lang thang trên mặt đất và thấy ngôi nhà tâm hồn của ai đó đã mở cửa, quét tước sạch sẽ mà lại vắng chủ. Thế rồi nó bèn đi chiêu mộ thêm bảy quỷ khác dữ tợn hơn nó, cùng đến cư ngụ trong tâm hồn người đó (x.Mt 12,43-45). Thật thế, nếu tâm hồn ta không đón rước Chúa, không mời Chúa làm chủ hướng dẫn cuộc đời, thì không sớm thì muộn, quỷ dữ sẽ đột nhập và hoành hành trong ta.

Dụ ngôn về kẻ trộm đã khiến Phê-rô giật mình và thưa Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn ấy cho chúng con hay cho mọi người?” (Lc 12, 41). Lúc này, Chúa Giê-su lại đưa ra một hình ảnh và cương vị mới, đó là người quản gia, người được chủ đặt lên coi sóc mọi tài sản và các tôi tớ trong nhà (x Lc 12, 42). Chủ xem trọng người quản gia và cho rằng ông có khả năng bao quát mọi việc, quan tâm chăm sóc đến người khác, nhất là cung cấp thực phẩm cho kẻ ăn người ở đúng lúc, đúng thời, giải quyết mọi nhu cầu cần thiết cho họ. Đây là hình ảnh của vị mục tử tốt, lo lắng chăm sóc cho đàn chiên được ngôn sứ Edekien nói đến. Ngừơi đó đi tìm chiên lạc, bồi dưỡng chiên đau yếu, chữa lành chiên suy nhược, băng bó chiên bị thương… Khi chủ về, thấy quản gia làm tốt nhiệm vụ, chủ sẽ đặt anh coi sóc tất cả tài sản của mình. Đó là một nhiệm vụ cao cả, đáng kể hơn, vì anh đã chu toàn đúng với bổn phận được giao. Như vậy, người quản gia này có một sự trung thành, đáng tin cậy và khôn ngoan. Ngược lại, nếu người ấy cho rằng : chưa đến giờ rồi mải mê rượu chè, cờ bạc, chơi bời. Hơn nữa, còn đối xử tệ bạc với những ngừơi được giao phó cho mình, chểnh mảng trong việc cấp phát lương thực cho gia nhân. Chủ nhà về bất chợt và thấy anh ta có những hành vi bất xứng với chức vụ được giao, chủ sẽ sa thải, đuổi việc, thậm chí có thể bắt phạt, tố cáo và bỏ tù, vì anh ta đã vi phạm quy luật giao kèo. Lúc ấy, chủ cứ xét xử công minh xứng với hành vi của tên quản gia bất lương này. Đây cũng là hình ảnh của những mục tử không lo lắng chăm sóc cho đàn chiên : Chiên mập béo thì chúng xén lông, làm thịt. Chiên đau ốm chẳng thuốc thang chữa chạy. Chiên gầy yếu chẳng bồi dưỡng quan tâm… Mục tử này sẽ phải trả lẽ về những hành vi xấu đối với đàn chiên, khi không làm tròn sứ mạng được giao.

Trong hai câu cuối bài Tin Mừng, Đức Giê-su nhấn mạnh “Người mục tử biết ý Thiên Chúa mà không làm theo sẽ bị phạt nặng hơn. Vì ai được cho nhiều sẽ bị đòi hỏi nhiều”. Lời Chúa Giê-su cảnh giác các môn đệ khi xưa cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh người Ki-tô hữu, đặc biệt những người sống đời thánh hiến hôm nay. Chúng ta là những người thừa hưởng ân huệ của Thiên Chúa rất nhiều, bắt đầu từ khi lãnh Bí Tích Rửa Tội, nên được Thiên Chúa đòi hỏi nhiều hơn ở đời này và đời sau sẽ bị Thiên Chúa tra vấn về những việc làm, lời nói khi không làm tròn bổn phận.

*******

Lạy Chúa! Xin cho mọi Kitô hữu chúng con luôn dấn thân vào mọi ngõ ngách cuộc đời và làm chứng cho Tin Mừng khi sống chu toàn bổn phận, sống hết trách nhiệm với tha nhân và trong tinh thần phục vụ quên mình. Amen.