Translate

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

TIN VÀO CHÚA ĐỂ ĐƯỢC GIẢI THOÁT


Đức Giê-su nói với những người Do-thái đã tin Người: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi” (Ga 8, 31)

Tự do khỏi lề luật, tự do khỏi tội và tự do khỏi chết là 3 chiều kích cứu độ học trong các thư tín của thánh Phaolô. Một cách tương tự, Văn Chương Gioan cũng lần lượt khai triển về ba chiều kích này mà Chúa Giêsu thực hiện. Hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định với người Do-thái là: “Ai phạm tội thì nô lệ cho tội…nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8,34.36). Nghĩa là Chúa Giêsu giải thoát nhân loại để họ được tự do khỏi tội.

Đối tượng mà Chúa Giêsu giảng dạy hôm nay được Tin Mừng ghi rõ là “những người Do-thái đã tin Đức Giêsu”. Như thế, dù đã tin, nhưng tội vẫn còn đó khi chưa được Chúa Giêsu cứu chuộc thì vẫn bị tội lỗi giam giữ. Khi tội lỗi xâm nhập trần gian, con người đắm chìm trong tội, nô lệ cho mọi khuynh hướng xấu, bị giam hãm trong tội nguyên tổ, sự xuống cấp của một luân lý suy đồi “tội trần gian” và làm tôi cho ma quỷ. Tự sức con người không thể tự giải thoát mình, nên cần đến ơn Cứu Độ, và Chúa Giêsu đã phải trả giá đắt để chuộc con người, sau đó Thiên Chúa lại ban cho con người sự tự do. Chúa Giêsu cũng khẳng định: “Kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi” (Ga 8,35). Các ông chủ mua bán nô lệ với nhau, và người nô lệ rời khỏi chủ này lại bị buộc làm nô lệ chủ khác và thậm chí còn thê thảm hơn; còn Chúa Giêsu, Ơn Cứu Chuộc của Người có đó, nhưng để cho con người sự tự do lựa chọn, vì từ ngày sáng tạo, Thiên Chúa đã ban cho con người sự tự do. Sau khi giải phóng con người, Chúa Giêsu không bắt họ phải làm nô lệ Thiên Chúa, mà là phục hồi cho họ quyền làm con, mà làm con thì được tự do hưởng quyền thừa tự và ở mãi trong nhà Cha mình.Tóm lại, ơn cứu độ của Chúa Giêsu đến giải thoát nhân loại chúng ta khỏi bị nô lệ cho tội lỗi nữa, mà được làm con cái Thiên Chúa và thừa kế gia nghiệp với Chúa Giêsu trong nước Cha của Người.

******

Lạy Chúa, đã gần đến ngày tưởng niệm mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, xin cho chúng con ý thức thân phận làm con của chúa, để nếu chúng con đang yếu đuối trong tội lỗi, thì mau mắn chạy đến với toà cáo giải xưng thú hết mọi lỗi lầm, hầu được Chúa phục hồi lại ân sủng quyền làm con. Amen.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

THIÊN CHÚA CHỊU CHẾT ĐỂ CỨU ĐỘ CHÚNG TA


Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy (Ga 8, 28)

Tất cả các bài Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta nghe trong tuần này, trong đó có bài Tin Mừng hôm nay, kể lại cuộc trao đổi giữa Đức Giê-su và người Do Thái. Cuộc trao đổi càng ngày càng quyết liệt này làm bộc lộ bóng tối và sự chết có nơi người Do Thái và sẽ đi đến cùng là dự án giết Đức Giê-su mà chúng ta sẽ nghe kể lại trong bài Thương Khó vào Chúa Nhật Lễ Lá sắp đến. Tuy nhiên, cuộc trao đổi này cũng làm sáng tỏ căn tính đích thật của Đức Kitô: “Các ông bởi hạ giới, còn tôi, tôi bởi thượng giới”(Ga 8, 23a). Và điều này sẽ đạt tới đỉnh cao nơi Thập Giá: “Khi các ông dương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8, 28a). Như thế, điều tồi tệ nhất loài người dành cho Đức Giêsu, nhưng lại được Ngài dùng để bày tỏ căn tính đích thật của mình trong tương quan với Thiên Chúa.

Khi nói lời này, chắc chắn Chúa muốn gợi lại điều mà Ngài đã từng nói với một bậc thầy Do Thái khác : “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” (Ga 3, 14-15). Như thế, Lời Chúa trong sách Dân Số và trong Tin Mừng Gioan, qua hình ảnh “Con Rắn”, đưa chúng ta đi xuyên suốt lịch sử cứu độ, khởi đi từ kinh nghiệm phạm tội trong sa mạc (Ds 21, 6), trở về với thời điểm khởi đầu của sự sống (St 2-3), sau đó đi đến ngôi vị của Đức Ki-tô (Ga 3, 14) và vươn xa tới tận thời cánh chung (Kh 12, 7-10). Nhưng tại sao Con Người cũng sẽ phải được giương cao, như con rắn đồng trong sa mạc ? Tại sao lại khi Người bị treo lên khổ giá thì lại là lúc Người “Có”? Có cái gì? Với cách dùng ngôn ngữ biểu tượng, văn chương Gioan khẳng định, Chúa Giêsu chỉ thật sự là hằng hữu khi Người chấp nhận “bị giương cao lên”, Thiên Chúa của người Kitô hữu phải là một Thiên Chúa chịu đóng đinh, “Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ". Thật vậy, sứ mạng thiên sai của Chúa Giêsu đến là để dùng thập giá mà cứu chuộc thế gian. Đó là niềm hy vọng lớn lao của nhân loại.

******

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã được sai đến thế gian là để cứu độ thế gian chứ không phải lên án thế gian. Xin cũng sai chúng con đến với mọi người, cho họ sự cứu vớt, chứ không phải đến để lên án đồng loại. Amen.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

TỘI và TỘI NHÂN

Ai trong các ngươi sạch tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi  (Ga 8, 7)

Hôm nay, các kinh sư và người Pharisêu sử dụng “nguyên lý triệt tam” để tung ra một đòn quyết định, đặt Chúa Giêsu vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan, mà nếu Người ngả theo phía nào thì họ cũng có cái cớ để tố cáo Người. Họ đưa đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ nữ phạm tội ngoại tình, rồi hỏi Người sẽ xử lý thế nào khi luật Môsê dạy phải ném đá chết. Cái bẫy của họ gài vào là nếu Chúa Giêsu nói không thì họ kết án Chúa lỗi luật Môsê, còn nếu Người nói có thì họ sẽ có cớ phản bác trái với luật yêu thương mà Người giảng dạy. Mưu kế này cũng tương tự như họ gài bẫy Chúa Giêsu vào vấn đề nộp thuế cho Xêda. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp với họ, nhưng với một lời nói của Người đã đặt các kinh sư và người Pharisêu vào một sự chất vấn của lương tâm và phơi bày lòng dạ khi đối diện với Đấng thấu suốt mọi sự: “Ai trong các ngươi sạch tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”.

Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay và nhiều chỗ khác trong các Tin Mừng, có lẽ không ít người cho rằng Chúa Giê-su “dung túng cho việc phạm tội”. KHÔNG PHẢI THẾ, Chúa Giê-su ghét tội nên Người đã đến trần gian và chịu chết để giải thoát nhân loại khỏi tội; Chúa lên án tội, nhưng không bỏ rơi tội nhân; Chúa bảo vệ người phụ nữ ngoại tình, giải thoát nàng và tha thứ cho nàng, nhưng không phải để nàng tiếp tục con đường cũ, mà Người đã dặn nàng: “Chị hãy đi và đừng phạm tội nữa”. Thật vậy, “Thiên Chúa không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn tội nhân bỏ đường tà để được sống” (Ed 18,23). Chính vì thế mà cần phải phân biệt rõ ràng giữa tội và tội nhân. Mọi người đều phải ghét tội, nhưng phải tạo cơ hội giúp tội nhân trở về nẻo chính đường ngay.

*******

Thiên Chúa thì yêu thương cứu vớt, nhưng con người thì lại loại trừ lẫn nhau, khi bị Thiên Chúa chất vấn thì chúng ta cũng đầy tội lỗi bê tha. Vậy, lạy Chúa, xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận ra mình cũng đầy tội lỗi, để chúng con không kết án loại trừ những tội nhân. Xin cũng cho chúng con học lấy tấm lòng trắc ẩn của Chúa mà cứu vớt những ai lầm lỗi, đưa họ về cho Chúa. Amen

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

ĐỂ THIÊN CHÚA ĐƯỢC TÔN VINH


Đức Giê-su liền phán: Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.  (Ga 11, 25)

Bài Tin Mừng hôm nay là một bản tường thuật độc quyền nữa của tác giả Tin Mừng Thứ Tư, mà Tin Mừng Nhất Lãm không nói đến. Một phép lạ phục sinh đã xảy ra cho Lazarô khi ông đã chết được chôn cất bốn ngày trong mộ đá. Đáng ra, nếu là chúng ta thì khi nghe tin người mình thương mến đau nặng thì lo lắng về ngay, nhưng Chúa Giêsu lại có cách khác như Người nói: "Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa”. Điều này cũng giống như Người nói trong trường hợp chữa người mù bẩm sinh: “… để Thiên Chúa được tôn vinh”. Như thế, đối với Chúa giêsu, bất cứ làm việc gì thì Người cũng làm vì VINH QUANG THIÊN CHÚA, và để khẳng định rằng, bất kỳ chuyện gì xảy ra cho chúng ta, dù là bệnh tật hay cái chết, thì cũng đều cho vinh quang Thiên Chúa. Lại nữa, Chúa Giêsu khẳng định, sự việc xảy ra là để ANH EM TIN. Niềm tin đó cần can đảm bước đi lên Giêrusalem, nơi mà khổ giá đang chờ đợi và cũng là nơi sự phục sinh sẽ xảy ra. Niềm tin là ánh sáng khiến chúng ta không thể vấp ngã, trái ngược với sự lén lút bước đi trong bóng tối của sợ hãi, như Chúa Giêsu nói với các môn đệ khi họ can ngăn Người tiến về Giêrusalem: Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình!” (Ga 11 ,9b-10).

Niềm tin đó cũng được biểu lộ qua những lời thân thưa của cô Mác-ta và Chúa Giêsu:  “Bất cứ điều gì Thầy xin thì Thiên Chúa cũng ban cho Thầy” (Ga 11, 22): Nghĩa là dù em con đã chết rồi, nhưng bây giờ Thầy xin thì Thiên Chúa vẫn cho em con được sống lại. Thật vậy, dù linh hồn chúng ta đã bao lần chết đi vì vắng Chúa, chúng ta xưng thú tội lỗi và đón rước Chúa vào lòng thì Chúa Giêsu sẽ lại phục hồi cho ta sự sống thiêng liêng với muôn vàn ơn phúc. Bài tường thuật đến hồi kết là việc Chúa Giêsu phục sinh cho Lazarô khi ra lệnh cho Lazarô chỗi dậy và bước ra khỏi mồ. Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu làm phép lạ để khẳng định giá trị của NIỀM TIN và để THIÊN CHÚA ĐƯỢC VINH QUANG: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” (Ga 11,40) “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con” (Ga 11,41b-42).

********

Lạy Chúa, xin ban thêm niềm tin cho chúng con, để Chúa luôn được vinh danh nơi mọi biến cố của cuộc đời chúng con. Amen.

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

HÃY SỐNG CHO SỰ THẬT


Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao? (Ga 7, 41b)

Đức Giê-su là ai? Ông ấy xuất thân từ đâu? Đó là những câu hỏi làm cho dân chúng cũng như giới chức sắc tôn giáo có nhiều tranh luận sôi nổi và trái chiều khi nghe những lời rao giảng của Đức Giê-su và thấy các dấu lạ Người làm. Trong tin mừng hôm nay, chúng ta cũng thấy có nhiều ý kiến trái ngược nhau khi họ bàn về Đức Giê-su.

Trong dân chúng : Sau nhiều ngày tháng nghe lời giảng dạy của Đức Giê-su và chứng kiến những dấu lạ điềm thiêng Người làm, dân chúng bàn luận với nhau về Đấng Mê-si-a, về Đức Giê-su. Chính những ý kiến khác nhau về Mê-si-a đã tạo ra sự chia rẽ và tranh cãi. Thậm chí, có một số kẻ định bắt Người, tống giam Người, nhưng họ không dám ra tay.

Giới chức tôn giáo: Trong khi dân chúng hoang mang về nguồn gốc của Đức Giê-su, thì giới chức tôn giáo cũng không mấy tỏ tường. Họ đã sai các vệ binh đi bắt Đức Giê-su (x. Ga 7,32), nhưng các vệ binh lại trở về tay không, bởi các vệ binh đã hết sức thán phục khi nghe lời Đức Giê-su rao giảng: “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!” (Ga 7, 46). Họ vẫn tin rằng, những nghiên cứu và tìm hiểu của họ về Kinh Thánh (Ngũ Thư) là quá rõ ràng cặn kẻ và không thể sai lầm được khi đối chiếu với hoàn cảnh của Đức Giê-su. Nhưng cũng có một điều khác, làm họ không dám chấp nhận Đức Giê-su, đó là lòng ghen tức và sự sợ hãi khi dân chúng tin vào Người.

Và chúng ta : Nếu chúng ta đang sống và hiện diện trong những buổi rao giảng của Đức Giê-su, chắc hẵn chúng ta cũng sẽ thiên về một trong những thái độ ấy của tiền nhân. Có thể chúng ta sẽ tin chắc rằng, đó chính là Con Thiên Chúa làm người, bởi ta choáng ngợp trước những lời giáo huấn đầy uy quyền kèm theo nhiều dấu lạ mà Đức Giê-su đã làm. Nhưng cũng có thể, với lối suy nghĩ thực tế đầy “tính khoa học”, với những am tường của trí tuệ, ta cũng dễ dàng tìm cho mình những điều phi lý nơi lời rao giảng của Đức Giê-su, và rồi chúng ta sẽ cho rằng: Đức Giê-su là một ngôn sứ giả mà ta không thể tin được. Hoặc có thể ta lại là những nhà hữu trách tôn giáo, lòng nhiều ghen tỵ và nổi sợ hãi khi thấy “uy quyền” của ông Giê-su đã làm cho dân chúng tin theo cách mạnh mẽ. Cùng với thái độ thiếu khiêm tốn, khi nghĩ mình đã nắm chắc được mạc khải của Thiên Chúa và mọi người khác đang sai lầm và bị mê hoặc, thì ta cũng chẳng thể đội trời chung với Đức Giê-su khi bảo vệ quyền lợi và chính kiến của mình. Như vậy, dù ta ở góc nhìn nào thì cũng có thể bị mê hoặc bởi tính con người ở góc nhìn đó.

Trở lại với niềm tin của chúng ta hiện nay vào Thiên Chúa, nếu ta không sẵn sàng khiêm tốn để chân nhận rằng, ân sủng của Thiên Chúa luôn tác động cách mạnh mẽ nơi mặc khải và qua Giáo hội, thì ta cũng sẽ dễ dàng bị các học thuyết, những lời biện luận dựa trên sự hiểu biết mê hoặc và có thể làm ta sai lạc đức tin. Nghe Lời Chúa với thái độ khiêm tốn và lòng kính sợ sẽ là phương cách nhận ra sự tác động của Thánh Thần hữu hiệu nhất.

******

Lạy Chúa, trước thế giới truyền thông đa chiều, đa thông tin hiện nay đã làm chúng con lúng túng khi tìm kiếm chân lý mặc khải. Chúng con dễ dàng bị mê hoặc bởi những điều mới lạ, những điều làm thỏa mãn sự ích kỷ của bản thân và có thể khó đón nhận những lời chân lý. Lạy Chúa Giê-su, xin giúp chúng con khiêm tốn và hoán cải nội tâm để dám tin tưởng vào Lời của Chúa, và can đảm sống chứng tá Lời của Ngài trong thế giới hôm nay. Amen.

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

HÃY NHẬN BIẾT VÀ YÊU CHÚA HƠN


Đức Giê-su lớn tiếng nói rằng: “Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông đã không biết Người. Còn tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.” (Ga 7,28-29)

Biết Đức Giêsu là ai là điều cốt yếu đối với chúng ta, vì điều mà Người ban tặng cho chúng ta là vô giá: đó là được thông phần sự sống của Thiên Chúa. Nhưng nếu Đức Giêsu không đến từ Thiên Chúa và không là Thiên Chúa thì lời hứa đó chẳng có giá trị gì. Chính vì vậy mà phải khám phá ra cho được Đức Giêsu là ai, vì nhờ đó mà chúng ta tìm thấy ơn cứu độ. Bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta tập chú suy niệm về việc nhận biết Chúa Giêsu như thế nào cho đúng với bản tính tự hữu của Người. Người là một Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha từ đời đời, hay chỉ là một con người Giêsu bình thường xuất thân từ làng Nazareth như cách biết của nhóm lãnh đạo Do Thái.

Thật ra, người Do Thái biết rất rõ về nguồn gốc nhân loại của Chúa Giêsu sinh ra ở đâu, con cháu ai và làm nghề gì, và họ rất thông thạo Thánh Kinh nói về Người, nhưng họ không tin và không yêu mến…chỉ vì người Do Thái chỉ tìm những đoạn Thánh Kinh có lợi cho họ, họ tìm những gì mang tính siêu việt và vẽ ra một Đấng Cứu Thế phải thoả mãn tham vọng của họ, nên họ cố tình bỏ qua những lời Thánh Kinh tiên báo về nơi sinh hạ, cũng như những gì các ngôn sứ viết về người tôi tớ đau khổ của Gia-vê. Chúng ta cũng cần tự vấn về mình, chúng ta vẫn cho rằng mình tin có Chúa, chúng ta tin Chúa Giêsu ngự trong Bí Tích Thánh Thể… nhưng liệu chúng ta có yêu mến Ngài thật không? Tin và biết là một chuyện, nhưng có yêu mến hay không lại là một chuyện khác. Chúng ta tự hào là biết Thiên Chúa, qua học hỏi, qua nghiên cứu, qua những khảo luận thần học, chúng ta thậm chí tự hào về kiến thức đầy mình về Thiên Chúa, nhưng có bao giờ chúng ta cầu nguyện tâm sự với Người không? Có đến viếng Thánh Thể không?

********

Lạy Chúa Giêsu, có thể chúng con đã từng tự hào biết Chúa qua những nghiên cứu, nhưng lại không yêu mến Chúa cho đủ. Xin Chúa cho chúng con biết Chúa là một Thiên Chúa đích thực là Đấng đã chịu đau khổ và chết vì chúng con, chứ không phải đi tìm một Thiên Chúa thỏa mãn ý mình. Để từ đó, chúng con không ngại bước theo con đường khổ giá mà Chúa đã đi, hầu đạt tới vinh quang phục sinh với Chúa. Amen.

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

HÃY SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO CHÚA


Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được? (Ga 5, 44)

Để hiểu biết về thế giới hay về con người, chúng ta có thể tích lũy sự hiểu biết một phần nhờ lý trí và khoa học, nhưng thường hơn nhờ lời chứng của người khác đã ảnh hưởng và dẫn dắt chúng ta, nhờ những gương sống, lời nói và việc làm của họ. Lời chứng có tính thuyết phục hơn không dựa trên tự mình làm chứng cho mình, nhưng nhờ đến uy tín của người làm chứng. Người càng uy tín, thì lời chứng của họ về một ai đó sẽ thuyết phục và xác thực hơn. Bài Tin Mừng hôm nay xoay quanh chủ đề Lời Chứng. Chúa Giêsu khẳng định Người không cần làm chứng về mình, nhưng có lời chứng từ Chúa Cha và những gì ghi trong Thánh Kinh cũng như các ngôn sứ làm chứng cho Người.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nhắc đến Môisê, Gioan Tẩy Giả và Thánh Kinh đều viết về Người, dù Chúa không cần đến những chứng cớ ấy, nhưng đó lại chính là cái mà người Do Thái tìm kiếm Đấng Messia. Tiếc là sự tìm kiếm của họ chỉ nhằm thỏa mãn theo ý họ, họ tìm những gì Thánh Kinh nói đến một Đức Kitô hiển hách theo kiểu người phàm; còn nếu có tìm kiếm một Đấng Messia như Thánh Kinh loan báo, thì họ cũng chỉ dừng lại ở những gì nói đến sự hiển thắng mà không quan tâm đến con đường khổ giá để đạt đến sự hiển thắng. Chính vì vậy mà họ không thể chấp nhận và không thể tin vào Đấng đã đến và đang nói với họ. Cũng thế, một số người cho rằng bởi vì Thánh Kinh là Lời Chúa rồi nên họ đâu cần gì khác để hướng dẫn họ. Thế nhưng, cũng như Thiên Chúa đã nói qua các biến cố và qua các ngôn sứ, thì Người cũng sẽ tiếp tục nói với chúng ta qua các biến cố thời sự và qua các vị hướng dẫn trong Giáo Hội nhờ Thần Khí. Vì thế, Chúa Giêsu tố giác những ai nghĩ họ đã nắm toàn bộ chân lý chỉ vì họ có cuốn Thánh Kinh, chứ không tin vào Người là Đấng Chúa Cha sai đến vẫn hằng ngày ở với họ.

********

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn là chứng nhân cho sự hiện diện của Chúa mọi nơi mọi lúc. Và xin cũng cho chúng con chỉ biết tìm vinh quang cho Chúa chứ đừng tự tôn vinh mình. Amen.