Translate

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

TÁM MỐI PHÚC


Phúc cho anh em khi người ta ghen ghét, bách hại anh em, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho anh em mọi điều gian ác. (Mt 5, 11)

Người ta quen gọi đây là bản hiến chương Nước trời, Nước trời là nước hạnh phúc. Muốn vào nước đó phải có 8 đức tính căn bản là:
1/ Tinh thần nghèo khó.
2/ Hiền lành.
3/ Sầu khổ.
4/ Khao khát điều công chính.
5/ xót thương người.
6/ tâm hồn trong sạch.
7/ xây dựng hòa bình.
8/ chịu bách hại vì đức công chính.

Chúa khao khát cho cuộc sống con người được hạnh phúc. Không chỉ là hạnh phúc tạm thời đời này, mà còn là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Chúa đã sống nghèo để dạy chúng con bài học về hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là cái mình có mà quan yếu ở điều mình trao ban. Hạnh phúc không hệ tại ở môi trường bên ngoài mà hệ tại ở lòng người. Vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Hạnh phúc không hệ tại ở danh vọng trần gian mà hệ tại ở việc sống thanh thoát khỏi những bon chen phàm trần. Hạnh phúc chính là chọn Chúa hơn là những vinh hoa phú quý gian trần.

Xét cho cùng, hạnh phúc là được sống đúng bản chất của mình. Để đạt được hạnh phúc này, chúng ta phải thi hành hiến chương Nước Trời, thi hành các mối phúc Đức Giêsu đã dạy. Nghĩa là, chúng ta phải nhận ra mình nghèo hèn trước Thiên Chúa. Để rồi chúng ta lại biết chia sẻ hồng ân của Thiên Chúa cho người anh em chúng ta, cụ thể như chén cơm, tấm áo, đem tình yêu thương đến cho mọi người.

******


Lạy Chúa, cuộc sống này, thời đại này nhiều người trong chúng con đã quên mất Chúa, không cần đến Chúa. Chúng con bất chấp tất cả miễn sao được danh lợi. Chúng con dám vì đồng tiền mà bán đi cả nhân phẩm cao quí của mình. Vì của cải, chúng con không ngại ngùng làm những điều bất chính, đàn áp anh em. Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con, xin đổi mới con người chúng con. Xin cho chúng con biết yêu thương, chia sẻ tinh thần và vật chất cho những ai cần đến chúng con. Amen.

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

THÁNH THỂ - TÌNH YÊU TỰ HIẾN



Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.” (Mc 14, 22-24)

Lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, được cử hành cùng một lúc, và là lễ lớn nhất trong năm của người Do Thái, nhằm tưởng nhớ ơn giải thoát khỏi Ai Cập và tưởng nhớ những ân huệ Thiên Chúa ban cho dân. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi nhận ra, nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa trao ban ân huệ lớn nhất, là chính sự sống và ngôi vị của mình. Chính Đức Giêsu là bánh đích thực, là lương thực đích thật đem lại sự sống. Bánh sự sống không phải là bánh ăn mãi không hết, cũng không phải là thứ bánh cải lão hoàn đồng, trường sinh bất tử, không phải thứ bánh ăn vào là no luôn, nhưng là căn tính của Đức Giêsu, là ngôi vị của Đức Giêsu, mà người ta được mời gọi đích thân “cảm nếm”.

Và cũng giống như sự sống thể lí của chúng ta tùy thuộc vào những gì chúng ta ăn, và những gì chúng ta uống; sự sống nhân linh của chúng ta, cũng tùy thuộc vào của ăn và của uống đặc biệt, là chính MÌNH và MÁU ĐỨC KITÔ. Để đi vào sự sống mới, để đi vào sự sống phục sinh ngang qua cái chết, Đức Giêsu mời gọi chúng ta ăn và uống chính thịt và máu của Ngài. Điều này có nghĩa là chúng ta được mời gọi “ăn” và “uống” không phải một sự vật, giống như món ăn, hay như một thứ thần dược nào đó. Qua hành vi “ăn” mình Đức Giêsu và “uống” máu Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi đi đến với Ngài và tin vào Ngài, nghĩa là đón nhận Ngài vào trong cuộc đời của chúng ta, để Ngài trở thành xương thành thịt, thành sự sống của chúng ta. 

****


Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đến với Thánh Thể, nhìn ngắm Đức Giê-su, lắng nghe lời nói và quan sát cử chỉ của Người trong bữa tiệc ly, như thánh sử Mác-cô kể lại, để nhận ra tình yêu đến cùng của Người và để cho con tim chúng con bị chinh phục.


Xin cho chúng con biết nhận ra tình yêu hiền mẫu đầy hy sinh của Chúa để đón nhận tình yêu của Ngài. Xin cho chúng con biết mở lòng đón nhận sự sống của Chúa để được sống trong ân sủng của Thiên Chúa. Và xin cho chúng con biết đem tình yêu ấy chia sẻ với tha nhân trong yêu thương và phục vụ như Chúa đã làm cho chúng con. Amen!

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

BÀ GÓA NGHÈO


Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ.(Mc 12, 38-40)

Đức Giêsu đưa ra hai hình ảnh đối nghịch: một bên là sự giả hình của các kinh sư, biệt phái. Lòng họ đầy mưu mô xảo quyệt nhưng được che đậy bằng một lớp vỏ bọc bên ngoài hết sức an toàn. Bên kia là sự chân thành của bà góa nghèo, bà đã dâng số tiền nhỏ mọn với thái độ âm thầm và quảng đại. Như thế giá trị của việc dâng cúng hay bất cứ việc gì khác không tùy thuộc số lượng, hay kết quả bên ngoài; nhưng tùy thuộc tấm lòng thành và cách sống của mỗi người.

Lời của Đức Giê-su chứa đựng hai lời cảnh báo đụng chạm sâu xa đến cách sống của chúng ta trong tương quan với người khác và với chính Chúa. Trước hết, đó là sự không tương hợp giữa việc đọc kinh cầu nguyện và tương quan của chúng ta với các bà góa. “Bà góa” chính là biểu tượng nói về tất cả những người nhỏ bé, giới hạn, kém may mắn, ít khả năng, nghèo khó, bị bỏ rơi, cô đơn, không có địa vị.

Lời cảnh báo thứ hai, là thái độ tìm kiếm và cảm thấy thích thú với những lời tôn vinh của người khác ngang qua lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất. Đó không phải là vì lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất là xấu, nhưng là thái độ tìm kiếm bằng mọi giá và cảm thấy vui thích trong những điều này; và mọi người chúng ta đều có kinh nghiệm, cách sống này là mảnh đất mầu mở của những điều thuộc về ma quỉ: ham muốn, ghen tị, ganh đua, loại trừ, thậm chí bạo lực…

Đức Giê-su mời gọi mọi người và nhất là mời gọi các môn đệ của Người, trong đó có chúng ta hôm nay, đừng sống theo cách sống của các ông kinh sư.  Tóm lại, các kinh sư là những người, không chỉ sống theo vẻ bề ngoài, nhưng còn đi tìm và thích thú với vẻ bề ngoài. Và ngang qua việc vạch rõ lối cụ thể của một nhóm người, Đức Giê-su mời gọi chúng ta nhìn lại chính bản thân mình, để nhận ra rằng, sống theo vẻ bề ngoài ở trong mọi lãnh vực, ở mọi nơi và ở mọi cấp độ, là một căn bệnh phổ biến và nan y của mọi người, trong đó có chính bản thân chúng ta. Vì thế, thay vì phô trương, Đức Giêsu mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức một cách kín đáo. Không phải để thi thố hay nâng cấp đức khiêm nhường, nhưng để trở nên giống Cha của mình là Thiên Chúa, Đấng hiện diện nơi kín đáo và hành động một cách kín đáo.

******


Lạy Cha, Cha không cần chúng con phải dâng cho Cha của lễ cao trọng. Cha cũng không bắt chúng con phải hy sinh, phải chia sẻ cho anh em quá độ ngoài sức chúng con. Nhưng Cha đòi hỏi nơi chúng con sự chân thành, và quảng đại thực sự. Chúng con vẫn còn cái nhìn rất hạn hẹp khi đánh giá người khác qua hình thức bên ngoài. Chúng con vẫn dùng tiền bạc của cải làm thước đo thang giá trị. Xin cho chúng con tích cực cộng tác về mọi phương diện trong việc xây dựng Hội Thánh, xây dựng giáo xứ, khu xóm và chân thành thực thi bác ái đối với anh chị em chúng con. Amen.

CHÚA GIÊ-SU – CON VUA DA-VIT


Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được? (Mc 12, 37)

Trong các bài Tin Mừng của những ngày vừa qua, thánh sử Mác-cô kể lại những nhóm người khác nhau (Pha-ri-sêu, Hê-rô-đê, Xa-đốc và kinh sư) thay phiên nhau đến chất vấn Đức Giê-su về những vấn đề thuộc bình diện xã hội (đóng thuế), niềm tin (sự sống lại) và về các điều răn (điều răn đứng đầu). Họ đặt câu hỏi không phải để đi tìm ánh sáng Chân Lý, nhưng là để  Người phải lỡ lời mà mắc bẫy.

Và trong bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô hôm nay, đến lượt Chúa Giêsu đặt vấn đề cho các luật sĩ: Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được? (Mc 12, 37a). Đức Giêsu không từ chối mình là Con vua Đavít, vì theo bản tính nhân loại, Đức Giêsu xuất thân từ dòng tộc Đavít. Nhưng ở đây, Đức Giêsu cho thấy, Ngài vượt xa hơn tước hiệu ấy, vì Ngài còn là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, nên Đavít lại phải gọi Ngài là Chúa. Điều đó cho thấy: Đức Giêsu từ địa vị Thiên Chúa, Chúa các chúa, Ngài đã tự hạ để chia sẻ kiếp người nhỏ bé thấp hèn, để cảm thông thực sự với những khốn khó và yếu đuối của chúng ta. Sở dĩ hôm nay Ngài dùng tước hiệu “Con vua Đavít” là chỉ vì Ngài muốn mở trí cho các luật sĩ hiểu Ngài là ai thôi. Chúa Giêsu cũng dạy tôi bài học khiêm tốn. Tôi có nhiều tư cách, nhiều tước hiệu, thí dụ người ta có thể gọi tôi bằng em, bằng anh, bằng chú, bằng thầy v.v... Nhưng tôi thích được gọi bằng những tước hiệu nặng ký hơn.

*****


Lạy Chúa Giêsu, khi suy gẫm về gương tự hủy của Chúa: từ địa vị Thiên Chúa, Ngài đã hạ cố đồng kiếp con người với chúng con. Xin cho mỗi người chúng con cảm nghiệm sâu xa tình Chúa yêu thương chúng con. Trong những lúc chúng con gặp khốn khó, thử thách. Xin cho chúng con biết tin tưởng vào Chúa. Chúng con không sợ hãi, thất vọng vì Chúa vẫn đồng hành, cảm thông và chia sẻ với chúng con. Tin tưởng bước đi bên Chúa, chắc chắn chúng con sẽ bình an. Amen.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT


Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (Mc 12, 30)

Đến lượt các luật sỹ tấn công Chúa Giêsu: “Trong các giới răn, giới răn nào là trọng nhất?” Các câu hỏi của người kinh sư trong bài Tin Mừng là một vấn đề nan giải của người Do Thái bấy giờ. Họ phân luật thành 612 điều khác nhau: 248 điều phải thi hành và 365 điều cấm. Vì giới luật quá nhiều, nên họ không thể xác định được đâu là điều chính yếu và quan trọng nhất. Đức Giêsu đã cho họ câu trả lời thật chính đáng và đồng thời chứng tỏ Ngài là Chúa của Lề Luật. Ngài tuyên bố: tất cả các giới luật đều qui về hai điều chính đó là hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như chính mình.. Hai điều luật này không thể tách rời nhau.

Lòng mến là chuyển động của con tim, là sự gắn bó nội tâm, là sự lựa chọn tự do, và vì thế không thể ép buộc được, không thể là đối tượng của luật buộc. Do đó, “điều răn lòng mến” là điều răn đứng đầu, theo nghĩa điều răn lòng mến là khởi đầu và là cùng đích của mọi giới răn và của mọi lề luật. Giữ luật và giới răn, chính là khởi đi từ lòng mến, ở lại trong lòng mến và hướng tới lòng mến (giống như chúng ta tập cho em bé yêu mến cha mẹ, người thân, người khác). Bởi vì, giữ mọi lề luật, giữ giới răn mà không có lòng mến, thì có nghĩa gì, vì chỉ là bề ngoài thôi; không có lòng mến chúng ta cũng chẳng giữ được; và nếu có giữ được thì cũng chẳng giữ được lâu!

*******


Lạy Chúa, Lời Chúa hôm nay dạy chúng con quá rõ ràng: muốn được sự sống đời đời phải kính mến Chúa, yêu thương anh em. Ai trong chúng con cũng biết điều ấy, nhưng chưa thực hành hay chỉ làm một cách máy móc hình thức. Xin Chúa giúp chúng con hiểu sâu xa lời dạy của Chúa và đem thi hành một cách cụ thể trong đời sống. Amen.

THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG


Người không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống. (Mc 12,27)

Trước đó, những người Pha-ri-sêu và những người phe Hê-rô-đê đặt câu hỏi để gài bẫy Đức Giê-su về những sự ở đời này, nghĩa là về vấn đề nộp thuế, được kể lại trong bài Tin Mừng hôm qua. Bây giờ, đến lượt những người thuộc nhóm Xa-đốc đến chất vấn Ngài về những sự ở đời sau: “Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì bảy người đó đã lấy bà làm vợ”. Người ta hỏi là để gây khó khăn, thậm chí để gài bẫy nhằm có lí do để lên án, nhưng, giống như trong cuộc Thương Khó, Đức Giê-su dùng chính điều dữ con người làm cho Ngài, để mở ra con đường cứu độ, để loan báo Tin Mừng.

Những người phái Xa-đốc tuy là tư tế nhưng không quan tâm đến những việc đạo đức cho bằng tới những đặc quyền đặc lợi của họ. Để bảo vệ những đặc quyền đặc lợi ấy, họ sẵn sàng ủng hộ bất cứ chế độ nào đang cầm quyền, cho dù đó là chính quyền đế quốc Rôma đang xâm lược đất nước họ. Họ không tin sự sống lại và không tin đời sau là phải, bởi vì ai càng coi trọng đời này và những giá trị đời này thì càng coi nhẹ đời sau và các giá trị đời sau. Càng thiên về xác thịt thì càng yếu về tinh thần. Giống như những người thuộc nhóm Xa-đốc, không tin có sự sống lại, chúng ta cũng có những câu hỏi, những vấn nạn, những thắc mắc nan giải về sự sống lại, khiến cho niềm tin của chúng ta bị lung lay. Câu trả lời của Chúa Giêsu trước vấn nạn kẻ chết sống lại của nhóm Xa-đốc cho thấy: cái nhìn của họ về cuộc sống đời sau còn quá hẹp hòi. Họ không hiểu ý nghĩa của sự phục sinh hàm chứa trong câu Thánh Kinh: Thiên Chúa là Chúa các tổ phục. Người là Thiên Chúa của kẻ sống. Nếu tin Thiên Chúa hằng hữu thì phải tin con người có cuộc sống vĩnh cửu. Họ không chấp nhận sự kiện con người sẽ sống lại là vì họ không chịu tìm hiểu Kinh Thánh. Đó là điểm đáng trách của họ. Họ không biết vì không chịu tìm hiểu. 

Chắc hẳn, chúng ta cũng có những thắc mắc liên quan đến sự sống đời sau và sự sống lại, tương tự như những người thuộc nhóm Xa-đốc. Vậy, chúng ta cũng hãy trở lại với Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay (Mc 12, 18-27), để lắng nghe và cố gắng hiểu câu trả lời của chính Đức Giê-su về sự sống lại. 

*****
Lạy Chúa, những người Xa-đốc trong bài Tin Mừng tượng trưng cho những người không tin vào Chúa và không hiểu biết Lời Chúa. Vì thế cuộc đời của họ còn cứ mãi lần mò, bước đi chập choạng trong mù tối và không tìm được mục đích thực sự cho đời mình. Xin cho chúng con được Chúa Thánh Thần hướng dẫn để hiểu Lời Chúa và được biết rằng: chính Chúa là hạnh phúc và lý tưởng của cuộc đời chúng con. Nhờ đó chúng con hân hoan khi sống ở đời này và hướng lòng về sự sống đời đời trong niềm vui và bình an. Amen.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA


Vậy thì của Xê-da, hãy trả cho Xê-da; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa (Mc 12,17)

Đây là một trong những câu nói của Đức Giê-su, được biết đến nhiều nhất, nhưng thường được hiểu theo nghĩa xã hội ; theo đó Đức Giê-su muốn nêu ra nguyên tắc : phân biệt giữa thần quyền và thế quyền. Hiện nay, tương quan giữa Giáo Hội và thế quyền được xây dựng dựa trên nguyên tắc này. Nhưng trong lịch sử, sự phân biệt này đã không được tôn trọng, hoặc về phía Giáo Hội (nghĩa là Giáo Hội ở trên thế quyền), hoặc về phía thế quyền (nghĩa là quyền dân sự can thiệp vào sinh hoạt của Giáo Hội).

Tuy nhiên, lời của Đức Giê-su không nhắm đến việc tổ chức quyền bính của Giáo Hội và xã hội ; mặc dù, người ta có thể áp dụng lời của Đức Giê-su vào trong lãnh vực này. Lời của Ngài thuộc bình diện thiêng liêng, đụng chạm đến chiều sâu của tâm hồn trong tương quan với Thiên Chúa và những gì không thuộc về Thiên Chúa.

Chúng ta cũng đừng bỏ qua một chi tiết nhỏ, nhưng rất có ý nghĩa : Đức Giê-su không có đồng tiền trong túi, vì thế Ngài nói : “Đem một đồng bạc cho tôi xem” (Mc 12, 15). Điều này không chỉ cho thấy rằng Ngài rất nghèo, nhưng sâu xa hơn thế nữa, tiền của, quyền lực và danh vọng không thuộc về lẽ sống của Ngài. Còn những người chất vấn Đức Giê-su, hoặc chủ trương đóng thuế hay không đóng thuế, lại có sẵn đồng tiền trong túi !

“Những gì thuộc về Thiên Chúa” là những gì ? Đơn giản là những điều ngược lại với tiền của, quyền lực và danh vọng ; đó là chia sẻ, phục vụ và khiêm tốn. Và chúng ta nhận ra những điều này thật rạng ngời nơi khuôn mặt của Đức Giê-su. Vì thế, cách thức tốt nhất để sống lời mời gọi của Đức Giê-su: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”, là đi theo Đức Ki-tô, là lắng nghe và sống lời của Ngài, là để Ngài trở thành sự sống của chúng ta, ngang qua bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống của tôi, những gì là của Xê-da, và những gì là của Thiên Chúa? Tôi đã trả cho mỗi bên như thế nào? Có trả đủ không?


******

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng con: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Xin Chúa soi sáng để chúng con biết phân biệt điều gì thuộc về phần đời, về công bằng xã hội chúng con phải đóng góp cho xã hội, nhưng chúng con cũng đừng quên bổn phận phải có với Chúa là tôn thờ Chúa trên hết mọi sự. Amen.