Translate

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

HẠNH PHÚC THẬT

Hôm qua (01.11) lễ Các Thánh, chúng ta nhớ đến những tín hữu ở thiên đường.

Hôm nay (02.11) lễ các linh hồn, chúng ta nhớ đến các tín hữu trong luyện ngục. Còn chúng ta là những tín hữu hiện còn tại thế. Bài Tin Mừng Gioan về bữa tiệc sum họp cho chúng ta biết hạnh phúc tuyệt vời và tối hậu sau một đời sống ở trần gian là được kết hợp thân thiết với Chúa trong bữa tiệc vĩnh cửu trên thiên đường. Ngoài thứ hạnh phúc đó ra, không có gì là hạnh phúc thật cả.

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

CÁC THÁNH LÀ AI?

Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt. Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh: “Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.” Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện. Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài. Nên thánh là đáp trả lời mời đó. Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì. Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống, là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình để sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.

Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa, và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại. Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao, là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình, dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa. Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em, là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh, hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng. Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong, mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời. Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt: giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp, hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình... Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna. Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein. Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia. Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ. Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh, vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng, với sa ngã của quá khứ và mỏng giòn của hiện tại, với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối. Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi. Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

BÁT PHÚC

“Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12a).

Mẹ Maria và các thánh là những người đã chọn lựa đi theo con đường bát phúc của Tin Mừng. Họ là những người mang đủ khuôn mặt: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khao khát, xót thương, trong sạch, hòa bình, bị bách hại. Hãy ý thức rằng Chúa sẽ chúc phúc và ban phần thưởng cho những ai yêu mến Người.

Con đường vinh quang nào chẳng phải bước qua khổ giá. Lạy Chúa, chúng con cũng ước ao sống con đường bát phúc theo chân Chúa, để qua cõi đời này, chúng con được hưởng vinh phúc với Chúa trên Nước Trời.

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

HÃY YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Con người sẽ không hiểu được tình yêu là gì nếu đã không từng sống trong tình yêu. Một tình yêu đúng nghĩa như Chúa dạy: “hết lòng, hết sức mình, hết trí khôn” thì lại càng không dễ. Chỉ có thể tìm thấy được tình yêu đó nơi Thiên Chúa yêu thương con người, để con người tiếp tục yêu thương theo cách thức Chúa đã yêu thương.

Con người là gì mà Thiên Chúa phải bận tâm, phàm nhân là gì mà Thiên Chúa phải chết thay cho họ. Thật khó mà hiểu được cách thức yêu thương của Thiên Chúa nếu không sống tình yêu của Người. Tình yêu Tuyệt Đối là tình yêu cho đi đến tận cùng, và đón nhận cho đến tận cùng. Chính vì là Tình Yêu Tuyệt Đối nên tình yêu ấy đủ sức để đón nhận tất cả những gì là người mình yêu.

Hãy yêu như Chúa Giêsu, một tình yêu không rào cản của những giới hạn, yêu ngay cả lúc con người chưa biết gọi tên, một tình yêu thẳm sâu trong con người, để có lúc con người ngỡ ngàng khi nhận ra tên gọi của tình yêu. Như Gioan cảm nghiệm “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Một tình yêu được diễn tả là “Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một Người mà chúng ta được sống” (Ga 3, 16). Thiên Chúa không ban gì khác, mà là chính Chúa. Người ban tặng món quà hơn tất cả mọi món quà của nhân sinh góp lại, Quà Tặng là chính Người Con Yêu dấu.

Không có bài học yêu thương nào lớn lao hơn là ban tặng chính mình. Chúa Giêsu cũng tự hy sinh mạng sống mình cho nhân loại. Tình yêu là tự hiến, chấp nhận chết đi để người yêu được sống, cho đi tất cả ngay cả mạng sống. Bởi là tình yêu đến cùng nên tình yêu cũng hy sinh tới cùng.


BẠN THÂN MẾN! HÃY YÊU NHƯ ĐỨC GIÊSU ĐÃ YÊU, LÀ CHO CON NGƯỜI SỐNG, VÀ SỐNG XỨNG ĐÁNG LÀ CON NGƯỜI.

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

QUA CỬA HẸP MÀ VÀO

Chúa Giêsu nói với dân chúng: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào.” (Lc 13,24)

Chịu ảnh hưởng của nền văn minh hưởng thụ, người thời nay có khuynh hướng làm cho mọi việc thành thoải mái dễ chịu, kể cả việc sống đạo.  Cách sống đạo như thế không phải là đi qua cửa hẹp. Thánh Phaolô đã so sánh cuộc sống tín hữu như một cuộc chạy đua: để đạt huy chương, người lực sĩ nào cũng phải dày công khổ luyện.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết chiến đấu mà không sợ thương tích..., biết xả thân mà không trông đợi phần thưởng nào khác, ngoài sự nhận biết rằng chúng con đã làm theo Thánh ý Chúa luôn.

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT


Báo Tuổi Trẻ ở Việt Nam có đăng bài “Phở nóng chiều mưa” của tác giả Bút Bi. Câu chuyện như sau: “Tiệm phở A đường Kỳ Đồng chiều hôm kia mưa như trút nước. Một ông già khoảng 70 tuổi, tay lần dò chiếc gậy, tay xách chiếc gà men cũ kỹ lập cập bưóc vào quán, mua phở mang về. Lúc ông đang lóng cóng lấy tiền – gói trong hai ba lớp bịch nilông – ra để trả, một trong hai thanh niên đang ngồi ăn phở ở chiếc bàn ngoài cùng bảo là đã trả tiền cho ông rồi. Ông già lãng tai ngớ ra không hiểu, người thanh niên vừa nói câu trên chỉ người bạn đang cắm cúi ăn: “Thằng này trả chứ không phải cháu đâu”. Rồi anh nói thêm có lẽ để câu chuyện được tự nhiên hơn: Nó hỏi bác có con gái không?” Ông già dường như vẫn còn chưa hết ngạc nhiên, thật thà nói: “có”. Người thanh niên kia bật cười bảo: “Nó nói chơi đó bác ơi”. Bút Bi tình cờ có mặt ở đó cũng bật cười. Mấy cô phục vụ trong quán cũng cười ầm lên. Ông già hiểu ra, hoạt bát hẳn lên, nói vài câu vui vẻ rồi cám ơn và chống gậy đi về.

Tò mò, Bút Bi nhìn hai người thanh niên. Họ ăn mặc giản dị, mang dép, đi chiếc Cub đời cũ, trông có lẽ là những người lao động lam lũ, và cử chỉ của họ thật dễ thương. Người già thường có cảm giác bị bỏ rơi, thèm sự hỏi han, chăm sóc. (Ông già phải tự chống gậy đi mua phở dù có con cái?) Chắc tối hôm ấy ông sẽ thấy vui lắm, chẳng những vậy có khi nó còn trở thành một kỷ niệm của ông, để ông kể đi kể lại với bà con, chòm xóm. Còn Bút Bi cũng thấy vui quá, bèn quyết định ăn luôn… hai tô phở!
***
Nghe xong câu chuyện “Phở nóng chiều mưa” trên đây, chúng ta cảm thấy ấm áp lên tình con người. Một sự quan tâm tế nhị, một lời thăm hỏi chân thành, một nghĩa cử yêu thương thầm kín, đã làm cho mối quan hệ giữa người với người thân mật gần gũi hơn, thông cảm nhau hơn, và quí mến nhau hơn.
Điều cốt lõi của Kitô giáo chính là yêu thương. Giới răn lớn nhất của đạo cũng chỉ là “Mến Chúa, yêu người”. Đó là sứ điệp mà Tin Mừng hôm nay muốn loan báo. Đức Giêsu trả lời cho người thông luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi…. Còn điều răn thứ hai, cũng giống như điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39).

Người Kitô hữu luôn mang trên mình cây thập giá. Cây thập giá ấy có một ý nghĩa rất cao đẹp: Thanh dọc của cây thập giá muốn nói rằng, người tín hừu phải vươn lên cao tới Thiên Chúa, để yêu mến Người với tất cả trái tim, với trọn vẹn con người. Thanh ngang của cây thập giá muốn nói với người tín hữu phải vươn đến với tất cả mọi người để yêu thương họ như chính mình, không loại trừ một ai, kể cả kẻ thù. Nếu có thanh dọc mà không có thanh ngang, thì đâu phải là cây thập giá, thì chưa phải là Kitô hữu. Cũng như đồng tiền luôn có hai mặt, thì người Kitô hữu luôn phải sống trọn vẹn hai giới răn “Mến Chúa và yêu người”, mới đích danh là Kitô hữu.

Có nhiều người nghĩ rằng “Mến Chúa” thì dễ quá. Chúng ta vẫn đọc kinh sáng tối, đi lễ cầu nguyện hàng ngày, năng tham dự các bí tích, và chúng ta bằng lòng với mức độ ấy. Thực ra, Chúa đâu chỉ đòi hỏi có thế! Hãy nghe lại điều răn lớn nhất này: “Phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Trong điều răn có ba chữ “hết”, chúng ta đã yêu được mấy chữ hết đó. Thường chúng ta chỉ yêu Chúa nửa vời, yêu tùy hứng, yêu đại khái, yêu theo vụ mùa.

Chúng ta chỉ yêu mến Chúa “hết lòng” khi chúng ta dám hy sinh thì giờ, công việc, lợi nhuận để đi tham dự thánh lễ, các giờ cầu nguyện, hay các buổi tĩnh tâm hầu nâng cao đời sống thiêng liêng.
Chúng ta chỉ yêu mến Chúa “hết linh hồn” khi chúng ta dám từ bỏ danh vọng, lợi lộc, chức quyền để trung thành với Chúa và các giới răn của Người.
Chúng ta chỉ yêu mến Chúa “hết trí khôn” khi chúng ta dám làm nhân chứng cho Người trước lương dân, trước kẻ bách hại, cho dù phải đe dọa đến cuộc sống và tính mạng.

“Mến Chúa” đã khó, “yêu người” lại càng khó hơn. Vì người ta đâu phải ai cũng dễ mến, dễ thương. Với cái nhìn không thân thiện của chúng ta sẽ có rất nhiều người dễ ghét và đáng ghét. Yêu người như Chúa dạy là “yêu như chính mình”. Có ai lại ghét mình bao giờ. Trái lại, người ta thường yêu mình quá độ.

Chúng ta chỉ có thể “yêu người thân cận như chính mình” khi chúng ta tránh hết sức không làm tổn thương đến nhân phẩm và quyền lợi của kẻ khác.
Chúng ta chỉ có thể “yêu người thân cận như chính mình” khi chúng ta biết kính trọng người già yếu, an ủi người khổ đau, giúp đỡ những ai nghèo đói, bênh vực những kẻ cô thân cô thế.

Chúng ta chỉ có thể “yêu người thân cận như chính mình”, khi chúng ta biết quảng đại trao ban và xả thân phục vụ những ai đang cần sự trợ giúp.

CẦU NGUYỆN LÀ LẼ SỐNG

Trong suốt cuộc đời rao giảng của Đức Giê-su, người ta thấy Ngài luôn dành cho việc cầu nguyện một vị trí quan trọng. Người ta thấy Ngài cầu nguyện mọi nơi: trong hội đường, trên núi, ngoài bãi biển… và mọi lúc: lúc sáng sớm, khi đêm về, sau một ngày giảng dạy hay trước một việc làm quan trọng, như hôm nay, trước khi chọn và gọi các tông đồ. Với Đức Giê-su cầu nguyện là lẽ sống của đời mình, nơi đó Ngài gặp Chúa Cha, nhận ra ý Ngài để thực hiện. Ngày cũng dạy các tông đồ và những ai đi theo Ngài phải biết cầu nguyện luôn; “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1); hoặc “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5). Nhờ cầu nguyện mà chúng ta biết mình phải làm gì và công việc của chúng ta cũng nhờ đó mà thực sự là công việc của Chúa và để làm vinh danh Chúa.