Translate

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

THỨ BA TUẦN 18 THƯỜNG NIÊN – A


Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế.(Mt 15, 11)

Vì quá câu nệ luật nên người Pharisiêu lẫn lộn cái chính yếu với cái phụ tùy, quá chú trọng đến cái phụ tuỳ bên ngoài mà đánh mất cái chính yếu bên trong là đức công bằng. Lo rửa tay rửa chén đĩa cho sạch, mà tâm hồn thì nhơ uế đầy gian tà cướp bóc, an tâm với những việc giữ luật bề ngoài mà không màng tới tinh thần. Đó là lối sống đóng kịch và khoe khoang khi muốn tỏ ra cho những người xung quanh thấy những việc làm của họ để được ca tụng. Họ quan niệm giữ luật Chúa là tuân thủ những luật lệ, những nguyên tắc và những lễ nghi bề ngoài, nghiêm ngặt phần hình thức như “rửa tay trước khi ăn”, “dâng lễ phẩm cho Chúa thay thế sự hiếu kính cha mẹ”. Họ dùng nghi lễ bề ngoài, để thoái thác một bổn phận căn bản về phụng dưỡng cha mẹ, lấy quy ước của các tập tục phàm nhân do họ đặt ra để xóa bỏ đi điều răn của Thiên Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay kể về việc người Biệt Phái thắc mắc vì một số môn đệ Chúa Giêsu không rửa tay trước khi ăn. Người Biệt Phái thắc mắc không vì việc Chúa Giêsu không giữ an toàn vệ sinh ăn uống, mà là cho rằng việc Chúa lỗi luật và vi phạm nghi thức tôn giáo truyền thống về việc sạch dơ. Chính vì thế mà Chúa Giê-su không phải lên án việc rửa tay cũng như rửa chén đĩa hay những thứ đồ vật khác trước khi ăn, nhưng Người muốn nhân cơ hội để dạy cho các ông Pha-ri-sêu một bài học quan trọng hơn – một sự trong sạch đích thực là sự trong sạch cho tâm hồn, chứ không phải cái mã bề ngoài. Đành rằng có thể có những đồ ăn thức uống có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ vì có độc hoặc không đảm bảo vệ sinh, nhưng chắc chắn không có thứ thực phẩm nào làm cho tâm hồn ra ô uế được. Sự ô uế của tâm hồn chỉ xảy đến từ những tư tưởng xấu và những hành động xấu mà thôi.

Lời Chúa Giê-su nói với người Pha-ri-sêu cũng là lời cảnh tỉnh cho con người thuộc mọi thời đại. Bên ngoài người ta có thể là những người rất đạo mạo, lịch sự, danh giá, chức quyền, sang trọng, nhưng bên trong lại chất chứa đầy sự tham lam độc ác “đầy những chuyện cướp bóc, gian tà”. Nhiều người chúng ta ưa tô điểm cho vẻ bề ngoài của mình để được nổi trội, kể cả việc làm phúc bố thí, nhưng bên trong đầy những mưu mô ngầm ý về danh tiếng và danh vọng. Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta trong khi lo trang điểm cho mình vẻ đẹp bề ngoài, thì cũng lo trang sức cho tâm hồn những nhân đức thánh thiện, lo cải hoá đời sống để được đổi mới trong mọi sự. Sống đạo với nghi lễ, làm đủ việc đủ giờ mà thôi thì chưa đủ, nhưng phải có tâm tình bên trong, và trong đời sống thường ngày, phải tỏ hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và bác ái với mọi người.

Cuối cùng, Chúa Giêsu kết luận: “Cây nào mà Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời, đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi”.(Mt 15, 13) : nghĩa là, những gì đem đến mối tương giao với Thiên Chúa thì mới là đến từ Thiên Chúa, còn những thứ lề luật được vẽ ra để kỳ thị đánh giá và kết án nhau thì không phải đến từ Thiên Chúa. Và đương nhiên điều không đến từ Thiên Chúa thì không thể tồn tại.

****** 

Lạy Chúa, xin cho chúng con trong khi biết lo làm đẹp bề ngoài, thì cũng lo cho linh hồn mình nên trong sạch trước mặt Thiên Chúa. Amen.

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

THỨ HAI TUẦN 18 THƯỜNG NIÊN - A


Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14, 27)

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại rằng: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện.”. Đang đi giữa biển thì cuồng phong nổi lên như muốn nhận chìm con thuyền nhỏ khiến các môn đệ vô cùng hoảng sợ, trong khi đó Đức Giêsu vẫn bình tĩnh cầu nguyện. Sở dĩ các môn đệ sợ hãi vì các ông tin tưởng vào sức riêng mình. Vốn là những ngư dân rành nghề, các ông am hiểu biển cả, thuộc từng con sóng và chỗ nào nước sâu có nhiều cá. Vì thế dù có ra giữa biển khơi, các ông vẫn tự tin lướt sóng. Chúa Giêsu đã để sóng gió nổi lên như muốn thử thách đức tin yếu kém của các môn đệ. Thái độ hoài nghi đã làm con mắt các môn đệ trở nên mờ tối khiến các ông không còn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Các ông chỉ còn nhìn thấy bóng ma của sự tối tăm và chết chóc. Sau khi nghe các môn đệ cầu cứu, Đức Giêsu đã đi trên mặt biển đến và trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” Sau đó Đức Giêsu truyền cho ông Phêrô đi trên mặt nước mà đến với Người. Nhưng Phêrô vẫn hoảng sợ đến nỗi Đức Giêsu phải đưa tay ra nắm lấy ông. Qua biến cố này, Đức Giêsu đã biểu lộ cho các môn đệ thấy quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa khiến mọi thế lực trần gian phải khuất phục. Đồng thời Người cũng nhắc nhở các ông sao yếu lòng tin vì còn hoài nghi ngờ vực.

Quả thật, chẳng bao giờ Chúa Giêsu bỏ rơi các môn đệ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Người vẫn hiện diện bên cạnh để giáo huấn và nâng đỡ đức tin cho các ông, cũng vậy, Thiên Chúa không bao giờ từ chối lời cầu xin của chúng ta bởi chúng ta là đối tượng được Người yêu thương và cứu chuộc. Tình yêu Thiên Chúa có sức mạnh kỳ diệu, mạnh hơn sự chết, cao hơn những suy tưởng và sâu hơn những yếu đuối của loài người. Nói như thánh Gioan tông đồ “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại một tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1 Ga 4, 18). Đức Giêsu đã yêu chúng ta bằng một tình yêu nhưng không, Ngài gánh lấy mọi tội lỗi và chịu chết để đem ơn cứu độ cho chúng ta. Nếu thực sự yêu mến và tin tưởng Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ sợ hãi thất vọng. 

Đã bao lần trong đời sống chúng ta từ chối tình yêu Thiên Chúa, đó là chúng ta từ chối cái “nắm tay” của Người. Chúng ta tự mãn nghĩ mình có đủ tài năng chèo chống con thuyền của cuộc đời mình bằng tiền của vật chất, bằng sức mạnh của thế gian để rồi bị trượt ngã thảm thương. Chúng ta tự quyết định con đường tương lai và vận mệnh đời mình mà không cần đến sự trợ giúp của Chúa. Chúng ta không phải là thiên thần để bước đi theo Chúa một cách thanh thoát. Chúng ta bước đi bằng đôi chân nặng nề của đam mê tội lỗi khiến đôi chân ấy cứ lún sâu xuống khiến chúng ta muốn ngã quỵ. Chúng ta không dám tin tưởng để cho Chúa dẫn dắt mà chỉ lo bám vào thế lực của con người, ngó ngác trông đợi mong bám vào một nhánh cây khô mục ruỗng. Chúng ta không nhìn lên phía trước để tiến bước mà cứ nhìn xuống vực sâu, nhìn vào dòng nước cuồn cuộn để rồi sợ hãi khốn khổ.

Nhân loại và Giáo Hội hôm nay cũng đang đối mặt với nhiều sóng gió của thế lực trần gian, nhiều tư tưởng sai lạc khiến niềm tin chao đảo. Người tín hữu đang phải gánh chịu những sự bất công, hận thù chia rẽ. Đời sống các gia đình đang gặp nhiều khủng hoảng khiến hạnh phúc gia đình rạn nứt. Ước gì chúng ta biết đặt trọn niềm tin cậy nơi Thiên Chúa và trung thành sống theo những giá trị của Tin Mừng.

******

Lạy Chúa, xin hãy giang rộng cánh tay của Ngài cho con nắm giữ. Không! sức con yếu đuối, bàn tay con quá nhỏ bé không thể nắm chặt tay Chúa. Cái nắm tay của con lỏng lẻo dễ dàng tuột mất, còn cái nắm tay của Chúa chắc chắn khiến con an lòng. Xin Chúa hãy nắm lấy tay con, tay con trong tay Chúa thì dù nhịp cầu kia có gập ghềnh lắc lẻo, dù biển đời có sóng gió thì thuyền con vẫn về tới bến bờ bình yên. Amen.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

LỄ CHÚA HIỂN DUNG - A


Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người! (Mt 17, 5b)

Lễ Chúa Biến hình được cử hành 40 ngày trước lễ suy tôn Thánh Giá (14/9) để củng cố đức tin cho các môn đệ trước những thử thách của biến cố thập giá mà nhiều người vấp phạm. Tưởng nhớ biến cố Biến Hình mang lại cho chúng ta niềm tin tưởng mãnh liệt vào sự chiến thắng vinh quang mà Đức Giê-su Ki-tô mang lại cho chúng ta sau cuộc chiến cam go và đầy thử thách này.

Trong ngày lễ Chúa Biến Hình hôm nay, phụng vụ đề nghị cho chúng ta các bài đọc Kinh Thánh nói về vinh quang của Thiên Chúa. Bài đầu tiên trích từ sách của Đa-ni-en trong Cựu Ước. Đây là một bản văn khá khó hiểu đối với những người mới đọc lần đầu; nhưng điều quan trọng là tin mừng mà bài đọc để lại cho chúng ta: Lời Chúa loan báo cuộc phán xét các đế quốc thế gian, sự giải thoát của dân Thiên Chúa và sự ra đời của vương quốc của Ngài. Trình thuật này chuẩn bị chúng ta hiểu sự kiện Biến Hình. Trong bài đọc thứ hai, chúng ta đọc lại lời chứng của Thánh Tông Đồ Phêrô về biến cố Biến Hình. Trước tiên, Ngài xác định rằng Lời của ngài khác xa với những câu chuyện tưởng tượng. Ngài chứng thực rằng lời chứng  của ông là xác thực: “Chúng tôi đã chiêm ngưỡng ... Chúng tôi đã nghe nói ...” Kitô hữu chúng ta hôm nay tin vào Chúa Giêsu biến hình và sống lại bởi vì chúng ta tin vào lời chứng của những người đã thấy vinh quang của Người. Với bài Tin Mừng, chúng ta đang bước vào sự kiện Biến Hình. Chúa Giêsu đem theo ông Phê rô và Giacôbê và Gioan; và Ngài dẫn họ lên một ngọn núi cao. Cần biết rằng trong Kinh Thánh, núi là nơi gần gũi với Thiên Chúa và gặp gỡ thân mật với Ngài. Đây thực sự là nơi cầu nguyện trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đây là nơi các tông đồ có những khám phá phi thường về Chúa Giêsu biến hình và tỏa rạng. Khuôn mặt Ngài trở nên rực rỡ và quần áo của Ngài sáng láng đến nỗi làm cho ông Phê rô lóa mắt. Thậm chí ông muốn ở luôn trên núi để tận hưởng biến cố này.

Là môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi trở nên những người lắng nghe Lời Ngài nói và nghiêm túc coi trọng lời của Ngài. Để lắng nghe Chúa Giêsu, chúng ta phải gần gũi với Ngài, hãy đi theo Ngài, chúng ta phải tiếp nhận lời giảng dạy của Ngài. Đây là những gì mà  đám đông trong các sách Tin Mừng đã làm khi theo Ngài trên những con đường xứ Palestina. Thông điệp Ngài truyền cho họ thực sự là giáo huấn của Thiên Chúa Cha. Giáo huấn ấy chúng ta có thể tìm thấy hằng ngày trong Tin Mừng; khi chúng ta đọc, thì thực sự Chúa Giêsu nói với chúng ta, đó đích thực là Lời của Ngài mà chúng ta đang lắng nghe. Trong câu chuyện về Biến Hình, có hai thời khắc quan trọng mà chúng ta cần lưu ý: đó lúc các Ngài “đi lên và xuống” núi. Chúa kêu gọi chúng đi lên núi không phải là để leo núi nhưng là để tìm một nơi thanh vắng hầu tiếp nhận rõ ràng hơn tiếng nói của Chúa. Đó là những gì chúng ta làm trong khi cầu nguyện. Chúng ta cần thời gian tĩnh lặng để suy niệm, để xét mình và tìm phương thế chữa lành đời sống Kitô hữu của chúng ta. Nhưng chúng ta không thể ở lại đó. Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện dẫn chúng ta “xuống núi”. Chúng ta được mời quay trở xuống vùng đồng bằng để về với thế giới hằng ngày của chúng ta. Chúng ta sẽ gặp lại những gương mặt thân quen cũng như tất cả những người đang phải vất vả vì những gánh nặng bệnh tật, bất công, thiếu hiểu biết, nghèo đói về vật chất và tinh thần. Xuống núi để được sai đi làm chứng nhân và sứ giả của niềm hy vọng đã nuôi sống chúng ta. Lời mà chúng ta đã nhận được phải lớn lên trong chúng ta. Điều đó sẽ được thực hiện nếu chúng ta công bố Lời Chúa. Nếu chúng ta tiếp nhận Lời thì không phải để đặt nó trong một nơi cất giữ mà là để trao ban cho người khác; đó là đời sống Kitô hữu: tiếp nhận Chúa Giêsu và trao ban cho người khác.

********

Lạy Chúa, Chúa mời gọi chúng con nâng tâm hồn lên để được nên một với Chúa trong ánh sáng thần linh, đồng thời Chúa cũng mời gọi chúng con dấn thân vào cuộc sống để sống trọn kiếp lữ hành trần thế trong ý Chúa. Xin cho chúng con luôn biết lắng nghe và thực thi ý Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời, với niềm hy vọng cuộc hiển dung cuối cùng trong vương quốc hằng sống của Chúa. Amen.

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

THỨ BẢY TUẦN 17 THƯỜNG NIÊN


Ông Gio-an có nói với vua: “Ngài không được phép lấy bà ấy.” (Mt 14,4)

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho thấy Gioan Tẩy giả là một con người dám sống đến cùng và dám chết để bênh vực cho sự thật, còn vua Hêrôdê là trường hợp cho thấy ông không dám đối diện với sự thật.

Thánh Gioan Tẩy Giả với sứ mạng làm chứng cho sự thật, kêu gọi mọi người sám hối, trở về với giới răn lề luật của Thiên Chúa, xé lòng chứ không xé áo, cuối cùng vì bênh vực cho điều này mà ông phải mang thân tù tội. Thánh Gioan biết chắc rằng, khi ông dám chỉ vào Hêrôdê để kết tội ông vua này vì sự chướng tai gai mắt trong đời sống luân lý của ông ấy mình sẽ bị vạ vào thân, nhưng sứ mạng của Gioan là phải lên tiếng, phải cảnh báo dù có gặp khó khăn trù dập hay trả thù. Gioan là con người thuộc về Thiên Chúa, thuộc về sự thật, là “bảng chỉ đường” dẫn mọi người đến với Đức Giêsu Kitô, chính vì thế mà ông đã hết sức trung thành với sứ mệnh là nói lên sự thật cảnh cáo mọi người biết cái sai và những hành động xấu xa của họ, và chỉ cho họ chân lý đích thật là Đức Giêsu. Lời chỉ trích thẳng thắn về hạnh kiểm của Gioan đối với nhân vật đứng đầu trong một miền của đất nước khác nào cuộc chiến đấu đầy can đảm của các ngôn sứ xưa kia. Chỉ vì Gioan được dân chúng hâm mộ và xem ngài như là một ngôn sứ, nên Hê-rô-đê không dám ra tay sát hại. Phần bà Hê-rô-đi-a để tâm hận ghét và chờ đợi có ngày trả thù. Ngày ấy đã đến. Cơ hội trong tầm tay khi nhà vua yêu thích điệu vũ của một cô gái nhảy – con gái bà Hê-rô-đi-a. Vì hứng khởi quá đà, vua đã thề sẵn sàng ban cho cô gái bất cứ điều gì cô xin, dù một nửa vương quốc ông đang cai trị. Thỉnh ý mẹ, cô gái đã xin cái đầu của người công chính, một người dám nói sự thật. Nhà vua đã chiều theo sự dữ khi thực hiện đòi hỏi của cô gái. Như thế, chỉ vì một lời thề nông nổi, chỉ vì muốn giữ thể diện cho lời nói của mình, chỉ một điệu vũ của cô gái nhảy mà máu người công chính đã đổ ra. Cái chết của Gioan xem ra là sự thất bại trước quyền lực của Hêrôđê, một sự thất bại nhục nhã bởi một âm mưu nhỏ nhoi đê hèn của một người đàn bà. Trước mắt con người, đó là thực là một sự thất bại! và có thể nói là một sự chọn lựa “ngu xuẩn”…nhưng thực ra, trong cái nhìn của đức tin, đó là sự thành công, vì Gioan đã dùng cái chết của mình để loan báo về cái chết của Chúa Giêsu Kitô, một cái chết đem lại ơn cứu chuộc cho nhân loại. Qua cái chết, Gioan chứng thực ông là vị tiền hô của Chúa Giêsu, vì đã chia sẻ với Chúa vai trò và sứ mạng của người tôi tớ đau khổ của Giavê. Vì thế, Đức Giêsu khi nói về Gioan, Ngài đã đề cao Gioan vượt lên trên tất cả, đến nỗi: “Trong các con cái do người nữ sinh ra, chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả” (Lc 7, 28). Cái chết của vị ngôn sứ vĩ đại nhất Gioan Tẩy giả cũng đồng số phận với những ngôn sứ khác trong Cựu ước là bị bách hại bởi dám đối diện với sự thật, dám đối đầu với những thế lực bóng tối và dù có chết cũng không sợ dám làm chứng cho sự thật và chân lý. Có người cho rằng: đây chỉ là cái chết lãng xẹt, nhưng thật ra đó là một lời chứng hùng hồn nhất – lời sự thật – nhân chứng đã lấy chính mạng sống và cái chết để bảo vệ sự thật. Đó là cuộc đời của một ngôn sứ chính danh đã đương đầu với sự dữ, dám chiến đấu với quyền lực ác thần để gióng lên tiếng nói chân lý đang bị vùi dập, quên lãng.

Cuộc sống hôm nay vẫn còn đó những con người như Hê-rô-đê, Hê-rô-đi-a, cô vũ nữ và những vị khách mời…liệu rằng đời sống nhân chứng là Ki-tô hữu của mỗi người có dám nói lên sự thật về thực trạng của cuộc sống xã hội hôm nay và của chính mình không? Hãy sống sự thật ngay trong gia đình, nơi xã hội, trong nhà trường, qua cách cư xử với nhau, đừng vì lợi lộc hay vì cả nể mà bẻ cong sự thật, hoặc xuyên tạc sự thật; Hãy trở thành chứng nhân cho sự thật toàn vẹn, chứ không thể chỉ nói một nửa sự thật, vì một nửa sự thật không còn là sự thật nữa. Đồng thời hãy khiêm tốn đón nhận sự thật đến với mình, những lời chỉ bảo của Chúa và Giáo Hội, những lời khuyên bảo góp ý của anh em, để điều chỉnh sửa chữa những sai lầm thiếu sót của bản thân nên hoàn thiện hơn.

*****

Lạy Chúa, qua lời chuyển cầu của Thánh Gioan Tẩy Giả, xin cho mỗi người chúng con can đảm sống đời chứng nhân trong vai trò, địa vị của mình, để làm rạng danh Chúa và cộng tác với Chúa trong việc xây dựng và cứu độ thế giới này. Amen 

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

THỨ SÁU TUẦN 17 THƯỜNG NIÊN


Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi (Mt 13, 57b)

Bài Tin Mừng hôm nay vừa vặn kết thúc chương 13 – bài giảng bằng dụ ngôn của Chúa Giêsu và mở ra giai đoạn mới trong sứ vụ của Ngài. Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử Mátthêu kể chuyện Chúa Giêsu về quê, mang theo những kiến thức rao giảng Lời Chúa và năng quyền chữa bệnh. Bước đầu tưởng chừng như thành công về Lời Rao Giảng, nhưng sau đó được coi như là một thất bại vì sự thành kiến và ghen tị của những người quê hương.

Những người ở quê hương nhìn Chúa Giêsu với cái nhìn đầy thành kiến, vì họ biết quá rõ nguồn gốc nhân loại của Người, là con một bác thợ mộc Giuse nghèo nàn ở Nazareth, học hành chỉ ở trường làng, nhất là trong thâm tâm họ, Đấng “Kitô” phải là con cái trong hoàng tộc, sống nơi thành phố hoa lệ và được học hành nơi các bậc thầy danh giá… Chính vì thế, khi thấy Chúa Giêsu nổi tiếng giảng dạy thì bắt đầu họ gièm pha chê bai. Là môn đệ của Chúa, chúng ta cũng không thể tránh khỏi những phản ứng tiêu cực của người đời, sẽ gặp thất bại, bị bách hại, bắt bớ... Óc địa phương, óc kỳ thị, dửng dưng ích kỷ đã ăn sâu vào tâm thức khiến chúng ta không bỏ được những thói xấu ấy.  Thêm nữa, nhìn xã hội hôm nay, người ta chuộng “hàng ngoại”, chạy theo những gì là “đẳng cấp”, “kỹ thuật số” làm sao để được hưởng thụ vật chất cho thật nhiều mà quên rằng giá trị đích thực của cuộc sống là tin vào Thiên Chúa. Người ta dễ dàng chạy theo những phong trào, những lối sống “không ngày mai” mà quên rằng nơi Chúa Giêsu mới đem lại niềm hạnh phúc đích thực.

Lại nữa, “gần chùa kêu bụt bằng anh”, đôi lúc chúng ta cũng có thái độ giống người đồng hương của Chúa Giêsu khi tỏ ra coi thường quyền năng, những ơn lành và tình thương của Thiên Chúa. Chúng ta có thể trách móc những người đồng hương của Chúa, nhưng chính chúng ta cũng phải đấm ngực ăn năn vì thái độ thờ ơ của chính mình. Hàng ngày Chúa vẫn thi ân giáng phúc, Chúa vẫn bao bọc chở che, vỗ về an ủi, nhưng chúng ta không nhận ra những ơn ấy mà chỉ lo chạy theo tiếng gọi của thế gian, của đam mê xác thịt. Chúng ta sống bên cạnh nhau như những người “quen biết xa lạ” để rồi đánh mất ý nghĩa cao quý của mối tương giao huynh đệ với tha nhân, đánh mất niềm tin tưởng vào Thiên Chúa. Có thể ở bên ngoài chúng ta không từ chối Chúa nhưng tận sâu trong đáy lòng và ước muốn, chúng ta không còn tin nhận quyền năng và tình thương của Chúa nữa. Nhân loại đang phải đối đầu với một cơn cám dỗ khốc liệt về niềm tin. Ngay trong gia đình cha mẹ và con cái không còn tin tưởng lẫn nhau. Ngoài xã hội đâu đâu cũng nhan nhản những chuyện bất công và những thói xấu cũng đang len lỏi vào cả trong Giáo hội. Và đôi khi, chúng ta thích đi hành hương nơi này, cầu xin nơi nọ, nhưng ngay nơi giáo xứ mình, chúng ta lại bê trễ việc đến gặp Chúa trong các Thánh Lễ và Giờ Kinh… Đọc lời Chúa hôm nay, chúng ta không khỏi giật mình. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, hãy tự trách mình trước để có thái độ sống xứng hợp Tin Mừng. Xin cho mỗi người chúng ta khám phá ra hình ảnh của Chúa nơi những người xung quanh để có thái độ sống bác ái hơn, tôn trọng và yêu thương người đồng loại nhiều hơn.

****** 

Lạy Chúa, trò không thể hơn thầy, nhưng nếu được bằng thầy thì đã là có phúc. Xin cho chúng con, nếu có phải nếm trải những sự thành kiến, kỳ thị và ghen ghét mà Chúa đã từng trải qua, thì cũng biết vui vẻ khiêm tốn đón nhận, để trong tất cả mọi sự Chúa được vinh danh.

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

THỨ NĂM TUẦN 17 THƯỜNG NIÊN


Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. (Mt 13, 47)

Mầu Nhiệm  Nước Trời là một điều thật khó hiểu cho người nghe Lời Chúa, ở đó diễn tả một mô mẫu của vương quốc hạnh phúc mà thực tại trần thế không có được, là điều mà trong suy tư tự nhiên của con người khó chạm đến cách thấu đáo. Chính vì thế, khi Đức Giê-su nói về Nước Trời Ngài luôn dùng dụ ngôn để diễn tả, cho người nghe có thể thấu cảm về một thực tại họ không nhìn thấy và rất khó để suy tưởng. Trong bài Tin mừng hôm nay, thì thánh sử Mát-thêu ghi lại dụ ngôn chiếc lưới, dụ ngôn cuối cùng mà Đức Giê-su đã dùng để diễn tả mầu nhiệm Nước Trời. Dụ ngôn “chiếc lưới” này cũng có ý nghĩa tương tự như dụ ngôn “cỏ lùng”, nghĩa là giữa thế gian vàng thau lẫn lộn, giữa biển đời cá tốt cá xấu, giữa cuộc đời người lành kẻ dữ cùng chung sống với nhau và chỉ được Chúa phân định trong ngày ra trước tòa phán xét, để thưởng công hay luận phạt. Ngày đó, như nông dân gom lúa vào lẫm và đốt cỏ lùng, như ngư dân bỏ cá tốt vào rổ và cá xấu vứt đi, thì Thiên Chúa cũng thưởng công Nước Trời hạnh phúc cho kẻ lành và ném vào hỏa ngục những kẻ gian ác tội lỗi.

Khi kể dụ ngôn “chiếc lưới”, Chúa Giêsu một lần nữa khẳng định có một cuộc phán xét cuối cùng, nhưng phán xét là một bí mật thuộc quyền Thiên Chúa, và cho đến ngày tận thế, cái tốt cái xấu có mặt lẫn lộn nơi mỗi người cũng như trong mọi cơ cấu xã hội loài người.  Khi ngày tận thế đến, số phận của mỗi người sẽ được tách biệt, cũng như số phận thật của những con cá khi mẻ lưới được kéo lên sẽ hoàn toàn tuỳ thuộc vào chất lượng của những con cá ấy. Vì thế, trước khi tấm lưới được kéo lên trong ngày chung thẩm, con người cần phải trở thành những con cá tốt. Số phận đời đời của mỗi người tuỳ thuộc vào chất lượng của cuộc sống hiện tại này. Mọi người tiến về một cuộc phán xét, và sự sống sung mãn sẽ được tặng ban cho những ai ở “trong” Chúa; ngược lại, ai chối từ sự sống chỉ còn biết một số phận vô vọng của hỏa ngục.

Mặt khác, dụ ngôn chiếc lưới còn có mục đích diễn tả lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa, Ngài chấp nhận tốt xấu pha trộn, đợi đến ngày cuối cùng Chúa mới lấy quyền phân xử. Trong trần gian cũng như trong Giáo hội luôn có những người xấu sống bên cạnh những người tốt, cái thiện và cái ác lẫn lộn. Ánh sáng và bóng tối trong thế giới ta đang sống, thiện và ác trong lòng mọi người. Thiên Chúa cho kẻ lành người dữ sống chung với nhau, cũng như để cho cá tốt cá xấu sống chung trong biển cả, đến ngày tận thế Thiên Chúa mới phân xử, mới tách biệt cá tốt ra khỏi cá xấu, người lành khỏi kẻ dữ. Trong Hội Thánh và nơi mỗi người có một sự pha trộn thánh thiện và tội lỗi, thiện và ác đó là điều không tránh được. Hội Thánh là thánh thiện tự bản chất, nhưng Hội Thánh cũng có những con người yếu đuối và tội lỗi, và chúng ta, mặc dầu đã nhận nhiều ân sủng qua phép Rửa tội cũng có khuynh hướng phạm tội. Như thế, qua dụ ngôn này, chúng ta đừng có ảo tưởng có một thế giới toàn thiện hay là có thể có một Hội Thánh hoàn hảo ở trên trần gian này, trong đó chỉ toàn những người tốt và thánh thiện. Trái lại, kẻ lành người dữ sống chung với nhau. Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi cho kẻ dữ biết ăn năn sám hối để được tha thứ.

******** 

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức rằng cuộc sống con người ở trần gian còn đang ở trong tình trạng tranh tối tranh sáng, chỉ khi đến ngày phán xét, mọi sự sẽ trở nên sáng tỏ; để chúng con lo tìm kiếm Nước Trời thì sẽ không bao giờ lầm, vì đó là một bảo đảm cho những ai dám đặt tất cả niềm tin vào Chúa. Amen.

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

THỨ TƯ TUẦN 17 THƯỜNG NIÊN


Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng….Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp….(Mt 13, 44-46)

Chúng ta đang đọc Tin Mừng theo thánh Mat-thêu về Mầu Nhiệm Nước Trời, và Chúa Giêsu đã dùng một loạt các dụ ngôn để mô tả giá trị cao cả của Nước Trời qua những hình ảnh sinh động, nhưng gần gũi với dân Do Thái thời bấy giờ như: hạt lúa, hạt cải, men, cỏ lùng... Hôm nay, Chúa Giêsu dùng hình ảnh “kho báu và viên ngọc quý”, là những của cải "cao cấp" dành cho tầng lớp giàu có, sang trọng để nói về giá trị của Nước Trời. Hai dụ ngôn “kho báu” và “ngọc quý” mà Tin Mừng hôm nay thuật lại qua lời rao giảng của Chúa Giêsu là một lời mời gọi chúng ta đừng để mất cơ hội khi Nước Thiên Chúa đến.  Nước Thiên Chúa đó không phải là một chuyện tình cờ, nhưng là một thực tại bị ẩn giấu như kho tàng chôn giấu trong thửa ruộng và như viên ngọc lẫn lộn trong số các loại ngọc giữa chợ đời. Vì thế, phải thao thức đi tìm, biết phân định chọn lựa, dám dấn thân và từ bỏ tất cả để đổi lấy nó. Dụ ngôn kho báu và viên ngọc quý muốn nói tới sự cao quý tột bực của Nước Trời mà không có thứ giá trị nào sánh bằng. Tựa như khi phát hiện ra kho báu hay tìm được viên ngọc đẹp, người ta bán hết tất cả những gì mình có để tậu cho được, thì khi những ai đã khám phá ra Nước Trời, mọi giá trị người ta từng theo đuổi từ trước đều phải nhường chỗ và họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để dành cho được nước ấy.

Thật vậy, Nước Trời có đó nhưng mấy ai khám phá ra và mấy ai nhận thấy được giá trị vĩnh cửu để đầu tư đời mình. Kho báu được chôn giấu nên phải tìm kiếm và đào bới, muốn có ngọc đẹp phải bôn ba đây đó tìm mua. Nước Trời là một thực tại siêu việt nên phải vất vả tìm kiếm với cả lòng khao khát và hy sinh. Cũng vậy, giữa đời sống đem đến cho chúng ta đủ mọi loại giá trị, nên cần biết phân định đâu là giá trị vĩnh cửu và đâu là những giá trị chóng qua để đầu tư hay từ bỏ, từ đó nhận ra giá trị vĩnh cửu của Nước Trời dù Nước Trời chưa tỏ hiện rõ ràng trên thế gian. Như người kia trong dụ ngôn phải bán tất cả những gì mình có mới đủ tiền tậu thửa ruộng có kho báu hoặc mua viên ngọc quý. Chúng ta cũng phải vứt đi tất cả những thói quen, những thú vui thường xâm chiếm mà không thỏa mãn tâm hồn chúng ta. Trong sóng gió và bão táp cuộc đời, chúng ta phải nhớ đến “kho báu” đã từng được tìm thấy, cho đến khi gặp lại được nó. Thật vậy, có thể người kia đã phải bán cả nhà cửa và mọi tài sản, thậm chí phải mất cả gia đình họ hàng chỉ vì “cái tội” mê viên ngọc đẹp. Cũng thế, chúng ta phải đầu tư trọn vẹn con người với tất cả tài năng trí tuệ, sức lực, thời giờ mới mong chiếm đoạt được Nước Trời. Muốn đón nhận giáo lý của Chúa Giêsu để đạt được hạnh phúc đời đời, đòi hỏi các môn đệ Chúa Giêsu phải từ bỏ tất cả và vượt lên trên những tiếc nuối truyền thống và luật cũ. Như vậy, thực tại Nước Trời phải được khám phá ra và hiểu đúng. Tất cả các giá trị khác, như gia đình, nghề nghiệp, địa vị xã hội, của cải, tiện nghi, sức khỏe, lợi lộc, thú vui… không phải là những giá trị và tiêu chuẩn tối hậu, nhưng những tiêu chuẩn đó phải được thay thế và nhắm tới mục tiêu vĩnh cửu là Nước Trời. Nước Trời có đó, nhưng là một thực tại đang bị chôn giấu giữa thửa ruộng thế gian, sự sống vĩnh cữu đang ở ngay giữa chợ đời vàng thau lẫn lộn; nên để đạt được Nước Trời là sự sống vĩnh cửu đòi hỏi con người phải lên đường tìm kiếm, phải sáng suốt phân định, phải can đảm dấn thân và phải bỏ lại đàng sau những gì không còn thích hợp cho sự sống mai sau.

******* 

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết coi giá trị cao quý nhất và vĩnh cửu là Nước Trời, vượt trên mọi thứ giá trị trần thế mau qua, để chúng con chỉ lo tìm kiếm Nước Trời ngay trong cuộc sống và khám phá ra cùng đạt được nguồn hạnh phúc Nước Trời ngay trong khi chu toàn phận vụ mà Chúa trao cho chúng con giữa đời sống dương gian này. Amen