Translate

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

HÃY SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO CHÚA


Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được? (Ga 5, 44)

Để hiểu biết về thế giới hay về con người, chúng ta có thể tích lũy sự hiểu biết một phần nhờ lý trí và khoa học, nhưng thường hơn nhờ lời chứng của người khác đã ảnh hưởng và dẫn dắt chúng ta, nhờ những gương sống, lời nói và việc làm của họ. Lời chứng có tính thuyết phục hơn không dựa trên tự mình làm chứng cho mình, nhưng nhờ đến uy tín của người làm chứng. Người càng uy tín, thì lời chứng của họ về một ai đó sẽ thuyết phục và xác thực hơn. Bài Tin Mừng hôm nay xoay quanh chủ đề Lời Chứng. Chúa Giêsu khẳng định Người không cần làm chứng về mình, nhưng có lời chứng từ Chúa Cha và những gì ghi trong Thánh Kinh cũng như các ngôn sứ làm chứng cho Người.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nhắc đến Môisê, Gioan Tẩy Giả và Thánh Kinh đều viết về Người, dù Chúa không cần đến những chứng cớ ấy, nhưng đó lại chính là cái mà người Do Thái tìm kiếm Đấng Messia. Tiếc là sự tìm kiếm của họ chỉ nhằm thỏa mãn theo ý họ, họ tìm những gì Thánh Kinh nói đến một Đức Kitô hiển hách theo kiểu người phàm; còn nếu có tìm kiếm một Đấng Messia như Thánh Kinh loan báo, thì họ cũng chỉ dừng lại ở những gì nói đến sự hiển thắng mà không quan tâm đến con đường khổ giá để đạt đến sự hiển thắng. Chính vì vậy mà họ không thể chấp nhận và không thể tin vào Đấng đã đến và đang nói với họ. Cũng thế, một số người cho rằng bởi vì Thánh Kinh là Lời Chúa rồi nên họ đâu cần gì khác để hướng dẫn họ. Thế nhưng, cũng như Thiên Chúa đã nói qua các biến cố và qua các ngôn sứ, thì Người cũng sẽ tiếp tục nói với chúng ta qua các biến cố thời sự và qua các vị hướng dẫn trong Giáo Hội nhờ Thần Khí. Vì thế, Chúa Giêsu tố giác những ai nghĩ họ đã nắm toàn bộ chân lý chỉ vì họ có cuốn Thánh Kinh, chứ không tin vào Người là Đấng Chúa Cha sai đến vẫn hằng ngày ở với họ.

********

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn là chứng nhân cho sự hiện diện của Chúa mọi nơi mọi lúc. Và xin cũng cho chúng con chỉ biết tìm vinh quang cho Chúa chứ đừng tự tôn vinh mình. Amen.

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

HÃY LÀM THEO Ý THIÊN CHÚA


Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (Ga 5, 24)

Bài Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng việc nói về người Do Thái muốn giết Đức Giêsu và cái tội không giữ luật Sa-bát và dám gọi Thiên Chúa là Cha mình. Kế đến, là diễn từ về công việc của Đức Giêsu là làm điều Chúa Cha làm và theo ý Chúa Cha muốn. Sự đối lập giữa những người Do Thái ở thủ đô với Chúa Giêsu luôn là đề tài nóng trong cả bốn Tin Mừng. Cũng như ánh sáng không thể chung với bóng tối, bởi ánh sáng sẽ làm tỏ lộ ra tất cả những gì khuất tất, Chúa Giêsu chính là Ánh Sáng và Sự Thật. Sự xuất hiện của Người tại Giêrusalem đã làm phơi bày ra sự giả hình, ham mê quyền lực và trục lợi của các kinh sư – biệt phái và nhất là giới cầm quyền Do Thái. Chính vì thế mà họ đã tìm cách tẩy chay Chúa Giêsu, tiếc là họ không có lý do đủ mạnh ngoài việc bám víu vào luật Sa-bát, nhưng ngay cả luật này họ cũng bị Chúa Giêsu vạch trần những điều khoản tỉ mỉ do họ thêm vào mà sai lệch ý Thiên Chúa. Điều mà Chúa Giêsu khẳng định, tất cả việc Người làm là theo ý Thiên Chúa Cha.

Khác với chúng ta, trong mầu nhiệm Ba Ngôi, Chúa Giêsu có tri thức hưởng kiến và thấu rõ chương trình của Thiên Chúa Cha muốn thực hiện nơi Người. Như vậy, hai công việc mà Chúa Giêsu hằng làm như Chúa Cha làm chính là: Chúa Cha yêu thương thế nào thì Chúa Con yêu thương như vậy, và Chúa Cha cho kẻ chết sống lại thế nào thì Chúa Con cũng phục sinh ai Người muốn. Chính hai điều này mà Chúa Giêsu không ngại vượt qua những quy định thêm vào khắt khe của Biệt Phái về luật Sa-bát, Người dùng luật yêu thương để cứu chữa bệnh tật thân xác và phục sinh tâm hồn cho những ai tin vào Người: “Ai nghe lời Tôi và tin vào Đấng đã sai Tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống” (Ga 5,24). Còn những ai không tin vào Chúa Giêsu như những người Biệt Phái kia thì tự loại mình ra, bởi: “Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con” (Ga 5,23).

Mọi người chúng ta ngày hôm nay cũng thế, khi chúng ta có tội hay đang theo đuổi những công việc mờ ám, thì chúng ta rất sợ đối diện với sự thật, và tìm cách diệt khẩu những ai có thể làm ý đồ và công việc chúng ta bị phơi bày. Như vậy, mọi người chúng ta hôm nay muốn làm theo ý Chúa Cha là khi chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô và sống luật yêu thương vượt trên tất cả mọi sự ràng buộc khác.

******

Lạy Chúa, xin chiếu Ánh Sáng Chúa vào tận nơi sâu thẳm của tâm hồn chúng con, để thánh hóa mọi bí ẩn tâm can và làm cho tâm hồn chúng con được sáng, hầu chúng con sống trọn vẹn giới luật yêu thương của Chúa. Amen.

Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

HÃY CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT


Đức Giê-su bảo: “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi!”. Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được. (Ga 5, 8-9)

Hôm nay, tiếp tục hành trình tại Giêrusalem, Chúa Giêsu chữa bệnh cho một người bất toại đã 38 năm nằm ở bờ hồ Bết-da-tha. 38 năm bị giam hãm trong cơn bệnh, người bất toại cố dùng đến sức mình nhưng đã thất bại, và chính sự lãnh đạm của mọi người không giúp anh cũng làm cho tình trạng của anh vô phương cứu chữa, cho tới ngày anh gặp  Chúa Giêsu, anh nói lên tình trạng bất lực của mình, và Chúa đã cứu anh. Đó cũng là tình trạng của nhiều tâm hồn, ở lâu trong tội, để rồi tự mình không thể đứng lên trở về với Chúa, càng tồi tệ hơn là những người anh chị em trong cùng đức tin đã không làm gì để giúp nhau hoán cải. Chỉ đến khi mở lòng ra, nói hết tình trạng khốn khổ của mình, để cho Chúa đi qua cuộc đời mình, thì Chúa sẽ giúp chúng ta đứng lên.

Sự việc lại bị các biệt phái công kích khi thấy người được chữa lành vác chõng đi về trong ngày Sabát. Chúa Giêsu biết họ đang rình mò tìm kế hại Người, nhưng Người vẫn không ngần ngại chữa lành cho người bị bất toại, vì đối với Người luật yêu thương bác ái vượt trên tất cả mọi của lễ mà họ dâng. Thế nhưng, họ đã không chịu nhận ra mà còn giận điên lên và bàn nhau tìm cơ hội khác để giết Chúa Giêsu. Cũng vậy, chúng ta có nhân danh ngày nghỉ, lấy cớ việc đi lễ… để rồi không đếm xỉa đến những người gặp hoạn nạn đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta.

******

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết ý thức tình tương thân tương ái trong Chúa mà sẵn sàng giúp đỡ tha nhân bỏ đường tội lỗi trở về với Chúa. Amen.

Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

HÃY TIN VÀO CHÚA


Đức Giê-su bảo: “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. (Ga 4, 50)

Bài Tin Mừng hôm nay kể về một trường hợp chữa bệnh khá đặc biệt của Chúa Giêsu, khác hẳn với cách thông thường Người vẫn làm. Nghĩa là thay vì phải có một sự đụng chạm trực tiếp với bệnh nhân, thì hôm nay Chúa chữa bệnh từ xa, chữa bệnh không phải vì niềm tin của bệnh nhân mà vì niềm tin và trái tim yêu thương của người cha bệnh nhân. Chúa Giêsu không đụng chạm đến thân thể bệnh nhân, nhưng đụng chạm vào tấm lòng và yêu thương của người thân của họ.

Xét về thế giá và địa vị, viên sĩ quan trong bài Tin Mừng hôm nay (Ga 4, 46-54) có quyền lực về mặt chính trị, ông còn có quyền bắt, trục xuất hoặc ngăn cấm Chúa Giêsu truyền đạo, ông sẽ tin tưởng vào quyền lợi vật chất và khoa học hơn là niềm tin. Thế nhưng, ông nhận ra nơi con người Chúa Giêsu không đơn thuần là một thầy dạy như các kinh sư, mà là một vị ngôn sứ của Thiên Chúa, ông đã hạ mình đến cầu xin Người. Lại nữa, vì tấm lòng của một người cha thương đứa con bệnh tật, ông không ngại vượt qua rào cản của ý thức hệ và chính trị, để chạy đến với Chúa Giêsu. Nhưng hơn hết, ông tin vì ông nghe Lời Chúa Giêsu bảo: “Ông về đi, con ông sống”, chứ ông không đòi dấu lạ rõ ràng, nên niềm tin đó đã chữa lành cho con ông.

Còn chúng ta, đứng trước những khó khăn, đau khổ, bệnh tật… chúng ta có đặt niềm tin đủ vào Chúa để xin Ngài trợ lực không, hay là ỷ lại vào sức mình? Ước gì sau khi đọc bài Tin Mừng này, mọi người chúng ta xác tín hơn vào sự quan phòng của Chúa, để trong khi chúng ta ra sức đương đầu với những khó khăn và đau khổ của cuộc sống, biết chạy đến Chúa để được Ngài soi sáng và ban ơn trợ lực. Và trên hết, hãy tin tưởng và cầu xin Chúa chữa lành bệnh tật nơi tâm hồn chúng ta.

******

Một niềm tin đích thực không cần một sự nhìn thấy tỏ tường, vì như thế không còn là tin nữa, mà là bất đắc dĩ chấp nhận một chuyện đã xảy ra rồi. Chúa Giêsu cũng đã khẳng định điều đó sau lời cầu xin của viên sĩ quan đến xin Người chữa lành cho con trai mình. Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin nhưng xin Ngài nâng đỡ niềm tin còn yếu kém của chúng con. Amen.

CHÚA LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN


Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !.”(Ga 9, 39) 

Bài Tin Mừng đọc trong Chúa Nhật hôm nay thật dài, xoay quanh câu chuyện một người mù bẩm sinh đã được Chúa Giêsu cho sáng mắt. Câu chuyện Đức Giê-su chữa cho người mù từ khi mới sinh cho thấy: Đức Giê-su chính là Ánh Sáng Thế Gian, và chỉ những ai có lòng khiêm hạ mới đón nhận được ánh sáng ấy. Trong cuộc đối thoại, anh mù đã từng bước hiểu biết về Người: Từ "một người tên là Giê-su” (Ga 9,  11) đến “một vị Ngôn sứ !” (Ga 9,  17), rồi “Người bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga 9,  33). Cuối cùng là “Con Người” (Ga 9, 35), là Tôi Trung của Thiên Chúa và là Đấng Thiên Sai, thì anh mù đã tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin” và sấp mình trước mặt Người (Ga 9, 37). Quả đúng là kỳ diệu, chính Thiên Chúa là Ánh Sáng và xóa tan bóng tối bao phủ con người. Tuy nhiên, không phải mọi người đều nhận được ánh sáng từ Thiên Chúa, vì có người tự cho mình là “sáng” thì họ không chịu nhận ánh sáng từ Thiên Chúa, còn có người sống trong tối tăm lại được ánh sáng Chúa soi dẫn để họ nhận được ánh sáng đích thực: “Tôi đến thế gian này, chính là để xét xử: cho người không xem thấy, được thấy, và kẻ xem thấy trở nên đui mù” (Ga 9, 39).

Một cách ngầm ý ở đây là tác giả Tin Mừng cho chúng ta thấy sự nghịch lý: Anh mù cả đời sống kiếp mù loà thể xác (như lời mấy kinh sư nói về anh) và không được ăn học lại “thấy” được Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến (x. Ga 9,30-33); còn những kinh sư Do Thái sáng mắt và có bằng cấp Thánh Kinh kia lại không thấy được Đức Giêsu bởi đâu mà đến. Thật ra, chính sự ghanh tị và tham vọng, sợ lung lay cái ghế và cạn mất cái nồi. Đặc biệt, đường lối của Đức Giêsu không thoả mãn tham vọng của họ, nên họ đã không nhận ra và cố tình không nhận ra Đức Giêsu. Con mắt tâm hồn của họ ra mù tối, như lời Chúa Giêsu đã nói với họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: "Chúng tôi thấy", nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9,41).

TÓM LẠI: Thánh sử Gioan đã dùng câu chuyện Chúa Giêsu mở mắt người mù từ lúc bẩm sinh để khẳng định rõ ràng hơn, chính Thiên Chúa là ánh sáng. Và chính nhờ ánh sáng đích thực nơi Thiên Chúa đã thúc bách con người đến với Người, tin tưởng vào Người và nhận ra tình yêu nơi Người trào tràn chan chứa tưới lên khắp cả nhân loại. Như thế đã rõ, chính Ánh sáng từ Thiên Chúa, không những chỉ mở con mắt thể xác cho người mù, nhưng còn mở rõ con mắt đức tin nữa. Anh mù được mở mắt, mở hồn để thấy Chúa và tin vào Chúa cách mạnh mẽ.

*****

Lạy Chúa Giê-su, hiện nay còn biết bao người đang mù chữ, mù kiến thức, mù giáo lý… Nhất là đang bịt tai nhắm mắt như người Pha-ri-sêu xưa. Trong Mùa Chay này, xin cho chúng con biết dành thì giờ tham dự những cuộc tĩnh tâm để duyệt xét lại con người của mình. Xin cho chúng con ngày một hiểu biết Chúa để yêu mến Chúa, biết rõ con để không dám tự mãn và quyết tâm tu sửa các thói hư tật xấu để ngày một nên hoàn thiện giống Chúa nhiều hơn. Amen!

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

THÁNH LỄ TRUYỀN TIN


Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi. (Lc 1, 38)

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật về một cuộc đối thoại quan trọng nhất cho vận mạng loài người - cuộc đối thoại giữa Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel với cô thôn nữ làng Nazareth là Đức Maria.  Cuộc truyền tin này mang một ý nghĩa sống còn khi tạo vật nín thở chờ tiếng “xin vâng” của Đức Maria để Con Thiên Chúa nhập thể đi vào trần gian.

Lời “xin vâng” không chỉ nói lên sự khiêm nhường và vâng phục cách đơn thuần, nhưng còn hơn thế nữa, Người xác tín và hoàn toàn đồng ý với chương trình của Thiên Chúa, nghĩa là “ngay bây giờ sẽ thụ thai”, mà Giuse không biết gì cả. Khi chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, thụ thai để làm Mẹ Đấng Cứu Độ, Đức Maria biết rất rõ sự nguy hiểm đang chờ đón mình là có thể mất mạng vì luật Môsê sẽ ném đá thiếu nữ đã đính hôn mà có thai ngoài hôn nhân (x. Đnl 22, 22- 23). Do đó, tiếng “xin vâng” là một tiếng can đảm vâng phục, tin tưởng phó thác cả mạng sống vào tay Thiên Chúa và tiếng “xin vâng” đó sẽ theo suốt cuộc đời của Đức Maria cho đến cây thập giá. Âm thầm chấp nhận tất cả, vì chương trình của Thiên Chúa . Tuy nhiên, cũng cần hiểu đúng trong sự “xin vâng” của Đức Maria chất chứa hoàn toàn với tất cả ý thức và tự do, Người được thiên sứ Gabriel giải thích ý nghĩa công trình của Thiên Chúa muốn được thực hiện nơi con người của Mẹ. Thật vậy, ý định của Thiên Chúa luôn được thi hành và chương trình của Thiên Chúa luôn được thực hiện, nhưng không phải bằng cách cưỡng bách hay ép buộc. Khi chương trình Thiên Chúa liên can đến con người mà Thiên Chúa trang bị cho được tự do, thì có thể nói, chương trình ấy phần nào lệ thuộc vào sự cộng tác của con người. Nếu Thiên Chúa sử dụng con người như những “con tốt” trên bàn cờ hay như những vật vô tri trong vũ trụ, thì mọi sự sẽ diễn ra trong trật tự và ổn định, nhưng Thiên Chúa đã không muốn thế, vì như vậy sẽ tước đi sự tự do -điều quí giá nhất trong tình yêu- con người, làm cho sự đáp trả mất đi ý nghĩa và giá trị của nó. Cũng thế, Đức Maria, với cả “nhân vị” của mình, Người đã thưa tiếng “xin vâng” với sự cộng tác cao nhất, trong sự tự do và trách nhiệm, cùng với một tình yêu không mức độ.

 Như vậy, qua lời “xin vâng”, Đức Maria để lại cho chúng ta một mẫu gương chói ngời về sự vâng phục và tín thác hoàn toàn trong tay Thiên Chúa, với cả ý thức tự do tận hiến cho Chúa. Mẹ trở thành một khí cụ tuyệt hảo trong tay Thiên Chúa để ban ơn cứu độ cho nhân loại. Mẹ đã qui về Thiên Chúa tất cả mọi đặc ân và vinh quang nhận được, khiêm tốn nhìn nhận mình là “nữ tỳ hèn mọn” và tất cả là do Thiên Chúa. Đặc biệt Mẹ đã can đảm thưa tiếng “xin vâng” để suốt cuộc đời âm thầm chấp nhận phó thác mình cho Thiên Chúa hầu cộng tác cứu độ loài người.

*******

Lạy Mẹ Maria, xin mẹ cầu bầu cho chúng con luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn quy hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn. Amen

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT


Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ. (Mc 12, 33)

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc một tiến sĩ luật của Do Thái đến hỏi Chúa Giêsu về điều răn quan trọng nhất. Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp về giới răn nào trong thập điều, nhưng đưa ra hai điều gồm tóm tất cả mọi lề luật. Đó là mến Chúa và yêu người. Chúa Giêsu không chỉ gồm tóm thập điều thành hai điều căn bản mà còn nâng giới luật yêu thương lên tầm quan trọng ngang hàng với việc kính Chúa. Tóm lại: Mến Chúa và yêu người là hai tương quan của một nhân vị, vừa mang chiều kích tôn giáo vừa mang chiều kích xã hội. Con người sống tương quan hàng dọc với Thiên Chúa và tương quan hàng ngang với tha nhân. Kitô hữu sống mầu nhiệm đức ái bao gồm hai chiều kích này không thể tách rời nhau: Không thể nói mến Chúa mà lại không yêu người, chính thánh Gioan Tông Đồ cũng đã khẳng định điều đó.

Thế nhưng đó mới chỉ là yêu tha nhân bằng mình, mà chúng ta thực hành được đã là chu toàn lề luật rồi. Nhưng càng tốt hơn khi chúng ta dám yêu tha nhân hơn cả chính mình, mới thực sự nên giống Chúa Giêsu, Đấng đã dám thí mạng mình vì yêu, Đấng đã chịu đói khát cho chúng ta được giàu sang. Đó là mức độ cao nhất trong tình yêu, là vượt lên trên mọi so đo tính toán, chứ không chiếm hữu hay có qua có lại theo như cách phân tích của người Hy Lạp

********

Lạy Chúa, xin cho con luôn thấy Chúa hiện diện nơi mọi người chúng con gặp gỡ, để khi thực thi đức bác ái yêu thương với đồng loại, chúng con biết rằng, chúng con đang làm vì lòng yêu mến Chúa và có sức cứu độ các linh hồn. Amen.