Translate

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

THÁNH THẦN ĐƯỢC BAN CHO GIÁO HỘI...!

Nhân Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống sắp đến, tôi mời gọi mọi người cùng nhau suy nghĩ đôi chút về mầu nhiệm thiêng liêng này trong ít phút.

Sau khi Chúa Giêsu đi vào cuộc tử nạn, các Tông đồ trở nên hoang mang, sợ sệt, đang tụ họp trong nhà Tiệc ly, chưa biết phải xử sự làm sao, thì chiều ngày phục sinh, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các ông, trấn an và thổi hơi trao ban Thánh Thần cho các ông :”Anh em hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần”. Và 50 ngày sau nữa, vào sáng ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống một cách công khai để ban cho các ông những đặc sủng của Ngài để các ông mạnh dạn đi loan báo Tin mừng và xây dựng Giáo hội.

Thực ra, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ ngay khi Ngài hiện ra lần thứ nhất tại nhà Tiệc ly vào buổi chiều hôm Phục sinh. Sau khi chào các ông, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các ông khi Ngài thở hơi và nói :”Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội ai, thì người ấy được tha, các con cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ””(Ga 20,22-23). Còn ngày lễ Ngũ tuần chỉ là dịp Đức Giêsu ban Thánh Thần cho các ông một cách đặc biệt, với đặc sủng ngôn ngữ, đồng thời cũng là dịp giới thiệu Giáo hội cho muôn dân và chính thức sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng cứu độ cho mọi người.

Chúa Thánh Thần được ban cho các Tông đồ và Giáo hội đặc biệt trong ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần là hồn sống của Giáo hội, Ngài luôn hoạt động trong Giáo hội cách tích cực. Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Corintô hãy hiệp nhất trong Thánh Thần. Trong Giáo hội sơ khai, Chúa Thánh Thần ban nhiều đặc sủng khác nhau cho các tín hữu, những đặc sủng ấy nhằm ích lợi cho mọi người. Vì thế, các tín hữu phái tránh chia rẽ, đừng làm gì khả dĩ gây phương hại cho sự đoàn kết ; trái lại, phải dùng các ơn ấy để xây dựng thân thể Chúa Kitô là Giáo hội.

Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông đồ bằng hình lưỡi lửa cho mỗi người. Lưỡi tượng trưng cho lời nói, Lửa tượng trưng cho tình yêu và lòng nhiệt thành. Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà các Tông đồ sẽ đi rao giảng Tin mừng và làm chứng cho Ngài khắp mọi nơi. Được đầy tràn Thánh Thần trong buổi sáng lễ Hiện xuống, các Tông đồ cũng đón nhận được ơn đặc sủng về ngôn ngữ. Vì thế, các ông có thể nói cho những người đến hành hương tại Giêrusalem từ khắp nơi trên thế giới : mọi người đều hiểu theo ngôn ngữ của mình. Thánh Phêrô đã dùng đặc sủng ấy mà giới thiệu Đức Giêsu Nazareth cho những người tại Giêrusalem, và qua bài giảng nảy lửa ấy, đã có 3000 người trở lại. Đặc sủng ấy vẫn còn được ban cho Giáo hội và cho mọi thành phần trong Giáo hội hôm nay.


THÁNH THẦN TRONG CUỘC ĐỜI CỦA ĐỨC MARIA....!

Thánh Thần chưa bao giờ rời Đức Maria. Người đã “rợp bóng” trên Mẹ (Lc 1,35) để Con Thiên Chúa nhập vào thể xác của Mẹ. Người chưa bao giờ ngưng đồng hành với Mẹ trên con đường vững tín vào mầu nhiệm của Con mình, qua Sách Thánh, trong cầu nguyện khi “Mẹ hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Thánh Thần đã cho Mẹ được đầy ân sủng. Nhưng thiên chức của Mẹ chưa thể đạt mức viên mãn bao lâu những người con mà Chúa trao cho Mẹ trên đồi Canvê chưa được cùng với Mẹ, “tràn đầy ơn Thánh Thần”.


Đức Maria tại Nhà Tiệc Ly mong mỏi được thấy ngày khai sinh của cộng đoàn dân mới là Hội Thánh. Niềm mong ước này cũng nung nấu tâm hồn các tông đồ, là những người đã được nghe Chúa nói, trước khi rời các ông để được rước lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ” (Mt 28,19). Tại Nhà Tiệc Ly, Đức Maria đã có mặt với các ông . Nơi đây, các ông chờ đợi “Đấng Bảo Trợ” đến, là Thánh Thần mà Đức Kitô đã hứa ban, Đấng sẽ làm cho các ông nhớ lại những điều Người đã nói với các ông. Ở giữa các ông, Đức Maria cầu nguyện cho tất cả mọi người được tràn đầy sức mạnh ơn trên và có khả năng loan báo cho thế giới Tin Mừng cứu độ.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

HÃY BIẾT THA THỨ...!

Lệnh truyền khó thực hiện nhất trong các lệnh truyền của Chúa Giêsu đó là: “Anh em phải thương yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét anh em”.

Tha thứ là điều khó khăn nhất, cũng là điều cao cả nhất. Trao ban tiền của, trao ban thì giờ, và ngay cả trao ban chính mạng sống mình là điều xem ra còn dễ làm hơn là trao ban sự tha thứ. Tha thứ là tuyệt đỉnh của yêu thương, bởi vì tha thứ là yêu thương chính kẻ thù của mình. Hiến tế thập giá của Chúa Giêsu đã nên trọn hảo khi Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,24)

Tha thứ tức là làm việc thiện cho người gây khốn khổ cho ta. Họ sẽ được an tâm không sợ báo thù, không phải đối phó. Ðời họ nhờ sự tha thứ của ta mà bớt gánh nặng, và bầu khí chung quanh cũng được nhẹ nhàng, dễ thở hơn.

Tha thứ tức là tạo cho ta một niềm vui trong lòng: Vui vì được Chúa tha thứ tội lỗi cho ta. Vui vì mình đã làm được một nghĩa cử cao đẹp mà ít người làm được. Vui vì mình không phải bận tâm với những tư tưởng trả thù, không bị gò bó trói buộc vào những chuyện đen tối, nhưng sẽ tự do trong cõi lòng thư thái, thong dong.


Lạy Chúa, trong cuộc đời bon chen xô bồ này, làm sao có thể tránh được những sự gây gỗ bất hòa. Con chẳng tìm đâu những người vừa ý, hợp tánh, ngay chính con có là người hoàn toàn bao giờ đâu. Xin Chúa cho con biết chấp nhận sự thật đó, không phải bằng cách nuôi giận hờn giữ oán, nhưng là luôn biết tha thứ và quên đi những lỗi lầm của người khác. Xin cho con luôn nhớ rằng: Tha thứ là của lễ đẹp lòng Chúa nhất và qua đó, con được nên giống Chúa nhiều hơn.

THÁNH THẦN -- ĐẤNG BAN BÌNH AN


Tự thâm tâm sâu thẳm của từng người, cách này hay cách khác, mỗi người chúng ta đều khát khao hạnh phúc và một trong những dấu hiệu của một tâm hồn hạnh phúc, đó là sự bình an. Bình an là một cái gì không thể thiếu trong đời sống của con người. Vì thế, chúng ta tìm mọi cách để có được bình an. Trong quá trình tìm kiếm đó đã có không ít người nghĩ rằng: tiền bạc, danh vọng có thể đem lại cho họ hạnh phúc và sự bình an. Do đó, họ tìm mọi cách kiếm cho thật nhiều tiền, nhiều quyền. Đối với họ: “Đồng tiền là Tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khoẻ của ông già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý. Đồng tiền là hết y”. Với sức mạnh của kim tiền, có những lúc, người ta có thể đổi trắng ra đen, nói trái thành phải. Họ nghĩ rằng có tiền, họ có thể mua được mọi sự kể cả hạnh phúc. Nhưng thực tế có đúng như vậy không?

Với kinh nghiệm của cuộc sống, hẳn mỗi người chúng ta đều nhận ra rằng: Tiền bạc nay còn mai mất, nay trong tay ta mai ở trong tay người và quan trọng hơn: Tiền bạc không mang lại cho ta sự bình an và không những nó không mang lại hạnh phúc, mà lắm khi nó còn là nguyên nhân của biết bao nỗi bất hoà, lục đục trong gia đình: giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em với nhau. Nó còn là nguyên nhân của biết bao cuộc tranh chấp, cãi vả thậm chí dẫn đến việc người ta giết nhau, gia đình tan vỡ, anh chị em thưa kiện nhau cũng chỉ vì đồng tiền.

Nhận ra được nỗi thao thức, khắc khoải của con người, Đấng Phục Sinh, khi hiện ra với các môn đệ, cùng với việc trao ban Thánh Thần, Ngài đã ban bình an cho các ông và cũng là cho từng người chúng ta: “Bình an cho các con”. Bình an mà Thiên Chúa ban là sự bình an nội tâm khác hẳn với bình an của con người.
Bình an nội tâm mà Thiên Chúa ban không lệ thuộc vào ngoại cảnh, thánh Phaolô kêu gọi chúng ta: “Hỡi anh em, hãy vui mừng trong Chúa” (Pl 3, 1). Thánh nhân kêu gọi chúng ta vui trong Chúa, vì ngoại cảnh có thể không làm chúng ta vui, nhưng trong Chúa, chúng ta vẫn có thể vui và bình an. Điều này chúng ta dễ dàng nhận ra khi nhìn lại hoàn cảnh của các Tông đồ lúc bấy giờ. Sau khi Thầy của mình đã bị bắt và giết, các ông hoang mang, lo lắng, sợ hãi như lời tường thuật của thánh Gioan trong bài Tin mừng mà chúng ta vừa nghe: “Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do Thái” (Ga 20, 19). Nhưng ngay sau đó, khi gặp được Đấng Phục Sinh và nhận lãnh được Thánh Thần, các ông đã vui mừng cho dù ngoại cảnh vẫn không thay đổi, như lời thánh Gioan kể lại cho chúng ta: “Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa.” (Ga 20, 20). Các tông đồ vui mừng vì tìm lại được Chúa là nguồn bình an. Và niềm vui thật sự và mạnh mẽ đó, các ngài đã không thể giữ nó cho riêng mình. Các ngài đã biến niềm vui đó thành một hành động thật cụ thể. Các ngài đã mạnh dạn mở tung cửa rao giảng tin mừng Phục Sinh cho mọi người như trong sách Tông đồ Công Vụ nói đến

Như thế, bằng hai cách khác nhau, thánh Gioan và thánh Luca cùng diễn tả đặc điểm của tâm hồn bình an. Đó là tâm hồn của một người không lệ thuộc vào ngoại cảnh, một tâm hồn luôn quy hướng về Chúa, có Chúa ở cùng, một tâm hồn chan chứa niềm vui. Sự bình an nội tâm đó còn được được tác giả Thánh vịnh 4 diễn tả thật cụ thể như sau: “Thư thái bình an, vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho con được sống yên hàn.” (Tv 4, 9-10). Vâng, một hình tượng thật cụ thể và cũng thật súc tích: “Thư thái bình an, vừa nằm con đã ngủ”. Biết bao đêm trường chúng ta thao thức, trằn trọc cho dù tiền của, danh vọng chúng ta không thiếu. Chúng ta thao thức bởi tâm hồn chúng ta không có sự bình an. Sự bình an này không do chúng ta, nhưng là do ân ban của Thiên Chúa. Và đây mới là sự bình an thực sự. Nhưng chúng ta phải làm thế nào để nhận lãnh được sự bình an này?

Tóm lại, để có được bình an, mỗi người chúng ta cần có một tâm hồn trong sạch, ngay thẳng không quanh co dối trá. Vì thế, để mừng lễ Chúa Thánh Thần, mỗi người chúng ta hãy dọn mình sốt sắng, để con người chúng ta xứng đáng trở nên đền thờ cho Ngài ngự đến, nhờ đó, tâm hồn chúng ta luôn được bình an và hạnh phúc. Sự bình an của một người có Chúa ở cùng.

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

TÁC ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN...!

Chúa Thánh Thần làm gì cho chúng ta?

Đó là vấn đề chúng ta cùng nhau tìm hiểu và chia sẻ trong một vài phút ngắn ngủi này.

Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy các môn đệ, mặc dù đã bước theo Chúa, mặc dù đã được lắng nghe những lời khôn ngoan Chúa dạy, mặc dù đã được nhìn thấy những việc lạ lùng Chúa làm, thế nhưng các ông cũng chẳng lĩnh hội được bao nhiêu và đức tin cũng chưa thể bén rễ sâu trong cõi lòng các ông.

Sở dĩ như vậy vì đầu óc các ông còn u mê dốt nát và mang nặng tinh thần thế gian. Thực vậy, cũng như phần đông những người Do Thái khác, các ông đang trông chờ, mong đợi một đấng cứu thế trong lãnh vực chính trị và xã hội. Đấng ấy phải hùng mạnh như Đavít với kỵ binh và cbiến mã rợp trời. Đấng ấy phải khôn ngoan như Salômon, khiến cho muôn dân nước phải nể phục. Đấng ấy sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ của đế quốc La Mã, dẫn đưa dân tộc họ bước vào một thời đại hoàng kim. Và lúc bấy giờ các ông sẽ được làm lớn và giữ những chức vụ quan trọng trong vương quốc của Ngài, cùng với một cuộc sống nhiều đặc ân và bổng lộc, giàu sang và quyền thế. Chính vì thế, các ông thường tranh cãi xem ai là người cao trọng nhất, đồng thời các ông không thể nào chấp nhận được những khổ đau và cái chết tủi nhục trên thập giá mà Chúa Giêsu đã tiên báo.

Thế nhưng, sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, các ông đã đổi đời, đã thoát xác, đã trở nên những con người mới, am hiều và thông suốt về giáo lý của Chúa Giêsu, nhất là về mầu nhiệm thập giá, để vào ngày lễ Ngũ tuần, Phêrô thay mặt cho nhóm mười hai đã lên tiếng rao giảng về chính những điều trước đây ông đã không hiểu cũng như không muốn hiểu.

Nhìn vào các tông đồ, chúng ta thấy các ông không phải chỉ là những kẻ u mê và dốt nát, mà còn là nhưng kẻ hèn nhát và sợ sệt. Phúc âm đã ghi lại như sau:
Khi thấy sóng gió nổi lên, các ông đã hoảng sợ đến cuống cuồng, khiến Chúa Giêsu phải lên tiếng trách:
- Hời những kẻ hèn tin, tại sao các con sợ hãi.

Sự sợ hãi này còn được biểu lộ một cách rõ rệt hơn nữa trong cuộc thương khó. Giuđa đã bán Chúa với giá ba mươi đồng bạc, giá bán một tên nô lệ, và chỉ bằng một phần mười giá bán một chai thuốc thơm, Mađalêna đã dùng để xức vào chân Chúa Giêsu. Phêrô đã chối Chúa ba lần trong sân nhà thầy cả chỉ vì một câu hỏi vu vơ. Còn các môn đệ khác đều đã bỏ Chúa mà chạy trốn, ngoại trừ Gioan là đã theo Chúa đến cùng và đã có mặt dưới chân cây thập giá. Ngay cả sau khi Chúa đã sống lại, các ông tụ họp với nhau trong phòng, mà cửa thì đóng kín vì sợ người Do Thái.

Thế nhưng, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, các ông đã hoàn toàn đổi mới: từ những kẻ hèn nhất và sợ sệt, các ông đã trờ nên những con người can đảm và hăng say rao giảng Tin mừng. Hơn thế nữa, các ông còn sẵn sàng chấp nhận cái chết, cũng như đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng để làm chứng cho tình yêu của Đức Kitô. Thực vậy, trong số mười hai tông đồ, thì đã có tới mười một ông hy sinh mạng sống cho Tin mừng, chỉ trừ một mình Gioan là đã chết già tại cộng đoàn Êphêsô mà thôi.

Còn chúng ta thì sao?


Rất có thể lúc này chúng ta cũng đang là những kẻ mê muội và dốt nát, chẳng hiểu biết được bao nhiều về giáo lý của Chúa. Rất có thể lúc này chúng ta cũng đang là những kẻ hèn nhát và sợ sệt, chúng ta sẵn sàng bán Chúa và chối bỏ Ngài bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào và bất cứ vì lý do gì. Chính vì thế, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trong tâm hồn, để biến đổi chúng ta trở thành những con người mới luôn hiểu và sống Tin mừng, cũng như luôn hăng say phục vụ Chúa nơi những người anh em bất hạnh và khổ đau.

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

“GIỜ” ĐỨC GIÊSU ĐƯỢC TÔN VINH....!

Sự sống ai cũng quý và đều mong sao cho sự sống của mình được kéo dài bao nhiêu có thể. Từ đó, ta có thể kết luận rằng, cái chết thì không ai thích. Chính vì thế, mà nhiều người khi đứng trước cái chết đã tỏ ra rất sợ hãi.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy, Đức Giêsu nói đến "Giờ" của Ngài đã chu toàn sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó. Ngài cũng nói đến "Giờ" mà qua đó Thiên Chúa Cha được tôn vinh.

"Giờ" mà Đức Giêsu nói đến ở đây chính là "Giờ" của cuộc tử nạn. Nhưng cũng là "Giờ" của chiến thắng, "Giờ" của vinh Quang và "Giờ" Thiên Chúa Cha được tôn vinh.

Như vậy, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thấy rằng: mỗi kitô hữu chúng ta cũng đều trải qua "Giờ" đó trong cuộc đời. Phải có "Giờ" khởi đầu, có "Giờ" thi hành và có "Giờ" kết thúc. Hay nói cách klhác, phải trải qua "Giờ" của đau khổ thì mới được vào vinh quang. Phải qua "Giờ" của hiện tại, hữu hạn thì mới có "Giờ" của vĩnh cửu trên Thiên Quốc. Tuy nhiên, "Giờ" của hiện tại phải được chu toàn cách trung thành, thì "Giờ" của tương lai trên Thiên Quốc mới được đảm bảo. Con đường này chính là con đường mà Đức Giêsu đãc đi qua trong cuộc đời của Ngài.


Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho chúng con biết đi theo Chúa trên con đường mà chính Chúa đã đi. Xin cho chúng con biết chu toàn sứ vụ mà Chúa trao cho chúng con, để đến "Giờ" của Chúa đến, chúng con hân hoan đón nhận để được hưởng trọn vẹn niềm vui Nước Trời. Amen.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

CAN ĐẢM THEO CHÚA...!

“Giữa thế gian, các con sẽ phải đau khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33b)

Ðoạn Tin Mừng hôm nay báo việc môn đệ vấp ngã. Giáo Hội cho ta đọc đoạn này giữa mùa Phục Sinh - mùa hồng phúc, mùa yêu thương và hy vọng. Ðức Giêsu đã báo cho những môn đệ của Ngài, nhưng Kitô hữu chúng ta hôm nay sẽ phải lao đao khốn quẫn vì bóng đêm tội lỗi, vì thiếu vắng niềm tin. Sự ác lộng hành và thế gian bách hại... Chúa Giêsu đi trước chúng ta, Ngài cũng đã lãnh chịu tất cả những điều đó và người môn đệ của Ngài cũng sẽ bước theo con đường đó. Nhưng chúng ta đừng sợ vì Ngài đã chiến thắng thế gian. Ngài đã vượt qua quyền lực sự chết và bóng đêm của tội lỗi. Ngài dạy ta hãy vững lòng và tìm bình an nơi Ngài để can đảm bước lên.


Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, chúng con là những người môn đệ của Chúa còn đang loay hoay giữa biển đời. Theo Chúa lên đường để về nơi phúc thật là hành trình xa xôi và vất vả. Xin giúp chúng con biết chạy đến cùng Ngài để đón nhận sự bình an và can đảm mỗi khi mỏi mệt đơn côi. Xin giúp chúng con chiến thắng con người yếu đuối, nặng nề của chúng con, để chúng con lên đường trong thanh thản và an vui.